TRÀ TÀU VÀ ẤM NGHI HƯNG

Trà Tàu Và Ấm Nghi Hưng 

:::Nguyễn Duy Chính :::

LỜI MỞ ĐẦU 

Uống trà tàu vốn dĩ phổ thông thời trước, đến nay đã trở thành hiếm hoi trong xã hội Việt Nam. Thanh niên ngày nay chỉ mường tượng được cái hình ảnh đó qua những truyện ngắn của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời (Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm). Sách vở viết về trà lại càng ít ỏi. Tại Việt Nam ngày trước, ngoài cuốn Vang Bóng một thời chỉ lác đác vài ba cuốn khác. Trà đạo kiểu Nhật thì có bản dịch cuốn Trà Thư (The Book of Tea) của Okakura Kakuzo của Bảo Sơn.


Một tiểu thuyết cũng viết nhiều về thú uống trà là cuốn Trà Thất của Minh Đức Hoài Trinh.
Ở hải ngoại, cuốn Trà Kinh của Vũ Thế Ngọc là một biên khảo tương đối công phu. Ngoài ra, thỉnh thoảng có một đoản thiên nghiên cứu về trà Tầu hay ấm trà đăng rải rác trong tạp chí. Mới đây tôi được đọc một bài của Phan Quốc Sơn về ấm Nghi Hưng rất thú vị.
Trong tác phẩm Sống Đẹp Lâm Ngữ Đường cho rằng uống trà là một trong những phát minh quan trọng nhất của đời sống. Trà là một phần và cũng là một biểu tượng của sự nhàn nhã. Ông để hẳn một mục để bàn về Trà và Tình Bạn.


Viết về cách uống trà, thưởng thức trà thì Tây phương có hàng trăm cuốn nhưng phần lớn viết theo cách nghiên cứu một loại thực phẩm. Người Trung Hoa cũng có nhiều sách viết về trà, nghệ thuật uống trà, còn người Nhật thì đưa hẳn lên thành một đạo sống (Trà Đạo). Riêng Việt Nam, mặc dù uống trà rất thịnh hành nhưng lại ít ai để tâm nghiên cứu. Vũ Thế Ngọc, tác giả cuốn Trà Kinh đã ngậm ngùi mà than rằng “viết về trà thì gần như chưa có ai viết” hoặc “viết vô cùng sơ lược”. Nhận xét đó có lẽ không sai. Và vì thế khi ông tự cho rằng cuốn sách ông soạn “là quyển sách đầu tiên viết về nghệ thuật uống trà bằng Việt ngữ tương đối đầy đủ hơn cả” thì cũng không ngoa.

TRÀ TẦU 

Khi nói về trà tầu thường là nói đến các loại trà xanh là những loại trà người Trung Hoa xuất cảng. Nếu tính theo số người uống thì uống trà đứng đầu trong ba loại ẩm phẩm — trà, cà phê và nước ngọt.


Các học giả Tây phương vẫn cho rằng Trung Hoa là nơi phát xuất cây trà. Thế nhưng không phải cây trà chỉ mọc hoang trong vùng nam nước Tầu mà có khắp vùng Đông Nam Á. Thành thử Việt Nam ta cũng là quê hương của cây trà, và cũng có những cây trà cổ thụ. Vũ Thế Ngọc đã viết về cách uống trà kiểu Việt Nam như chè tươi, chè nụ, chè khô … và cho rằng chúng ta đã biết uống trà từ lâu đời nhưng vẫn giữ nguyên hình thái mộc mạc chứ không cầu kỳ như người Tàu. Tục uống trà tươi, trà nụ ngày nay vẫn còn phổ biến, kể cả một loại cây tương tự là cây vối cũng rất thông dụng tại miền quê nước ta.

Trong khi trà tầu — cùng với kiểu cách của người Tầu — chỉ hiện hữu trong một tầng lớp thượng lưu ở xã hội, phương pháp uống trà tươi, trà vối lại ở khắp mọi nơi. Nó đã trở thành đề tài cho văn học và nghệ thuật (Cái ấm đất của Khái Hưng hay bản nhạc Cô Hàng Nước) và là một món giải khát không thể thiếu của người nhà nông.
Trên mặt kinh tế, rất có thể sự vươn lên của Trung Hoa trong thế kỷ 21 này sẽ có một phần đóng góp không nhỏ của trà — một loại nông phẩm độc đáo — và ấm tầu — một dụng cụ và cũng là một loại nghệ phẩm đặc biệt. Cho nên, khi nhìn vào phương thức chiếm lĩnh thị trường, sau thời kỳ sản xuất những món hàng thông dụng rẻ mạt, tiếp đến phải là giai đoạn của những sản phẩm đặc thù — có một không hai, không có sản phẩm tương tự để thay thế, hoặc không thay thế nổi. Trà tầu và ấm tầu có thể ở trong thành phần đó. Độc đáo nhưng thông dụng, thượng vàng hạ cám, từ loại đắt hiếm tới loại rẻ mạt, có khả năng sản xuất qui mô và thu hút một lượng nhân công đông đảo là những yếu tố rất đáng kể trên mặt ngoại thương.

LỊCH SỬ 

Theo truyền thuyết, trong một lần tuần thú phương Nam, vua Thần Nông vô tình uống một nồi nước đun sôi có lá cây trà rơi vào. Ông uống rồi khen là trà “làm cho cơ thể phấn chấn, tinh thần thoải mái, sáng suốt”.


Một câu chuyện khác thì lại viết rằng Đạt Ma tổ sư vì ngủ quên trong một buổi tọa thiền nên bực tức cắt mí mắt vứt đi. Chỗ ông vứt mí mắt mọc lên cây trà, và trở thành một thức uống thông dụng cho những nhà sư để tỉnh táo khi tu tập. Từ chùa chiền, món uống này truyền ra dân gian.


Người Nhật thì kể là về đời Chiến Quốc (300-221BC), có một danh y tinh thông 84,000 cây thuốc. Ông dạy cho con được 62,000 cây thì chết. Những tưởng rằng kiến thức về 22,000 cây kia sẽ không còn tìm đâu ra. Nào ngờ trên mộ ông mọc lên một cái cây, chứa đủ tinh hoa của 22,000 cây còn lại. Đó là cây trà.
Lẽ dĩ nhiên, những câu chuyện này chỉ là huyền thoại. Người Trung Hoa cái gì không rõ nguyên do thường bịa ra một dật sự từ thời cổ sử gán cho Thần Nông, Hoàng Đế … cũng như người Việt bắt đầu một thần tích bằng “ngày xưa, đời vua Hùng Vương thứ …” để câu chuyện thêm li kỳ, vừa khiến cho những chứng cớ đưa ra có chỗ dựa.

Chính thức theo lịch sử thì trà chỉ mới được đề cập đến từ thời Tam Quốc, và đến tận đời Đường, người Tàu vẫn chỉ dùng các loại trà mọc hoang chứ chưa trồng và chế biến thức uống này. Trà cũng chỉ lưu hành trong giới thượng lưu miền Nam Trung Hoa chứ dân dã cũng chưa uống và tục uống trà chưa được coi như một thú thanh cao. Quả thực thời kỳ đó hai miền nam bắc Trung Hoa đời sống cách biệt như hai thế giới. Đến đời Tùy nước Tàu thống nhất thì những sinh hoạt mới lan truyền ra những vùng khác. Người Tàu pha trộn cách uống trà với sữa của người Hồ (tức các dân tộc vùng Tây Vực) là những dân tộc sống du mục. Tuy việc uống trà đã phổ thông nhưng vẫn có một số đặc điểm khác ngày nay:
– Thứ nhất trà vẫn còn coi như một vị thuốc, chưa có mấy nơi coi như một thức uống.
– Thứ hai trà do dân chúng vào vùng hoang sơn dã lãnh hái về chứ chưa biết trồng thành đồi, thành vườn để sản xuất một cách qui mô.
– Thứ ba trà uống theo kiểu giản dị là hái lá vào đem nấu (như kiểu chè tươi của ta) chứ chưa kiểu cách như sau này.
Tới đời Đường, khi Lục Vũ viết cuốn Trà Kinh thì trà mới trở nên phổ biến. Từ đó trở đi, nơi nơi đều uống trà, trở thành một phong trào và sản xuất trà cũng thành một lãnh vực kinh tế qui mô, đem lại một ngân khoản lớn cho triều đình. Và kể từ Đường, rồi sau Tống, Nguyên, Minh, Thanh đời nào cũng coi thuế đánh vào trà là một nguồn lợi chính.

Lục Vũ, tự là Hồng Tiệm người đất Cảnh Lăng, Hồ Bắc được mệnh danh là trà tiên của Trung Hoa. Vì chán ngán thời thế, ông từ quan, định theoThái Chúc hòa thượng ở chùa Thái Thường đi tu nhưng không được nên về ở ẩn chỉ chuyên tâm nghiên cứu về trà. Ông bỏ công đi tham khảo với những nông phu, tới tận nơi để xem xét cách chế tạo ngõ hầu có được kinh nghiệm thực tế. Thành thử những điều ông viết ra đều có giá trị.

Đời Đường, khu vực sản xuất trà bao gồm Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Lãnh Nam, Phúc Kiến, Kinh Tương và từ đó tới nay vẫn là những địa khu chủ yếu. Theo Chu Trọng Thánh, việc phong thịnh đời Đường bao gồm ba nguyên nhân chính:
– Thứ nhất, thời Đường giao thông đã phát đạt, các phương tiện chuyên chở đã cải tiến nhiều
– Thứ hai, sau khi cuốn Trà Kinh của Lục Vũ viết ra, phong trào uống trà càng lên cao
– Thứ ba, thời kỳ đó Phật giáo và Lão giáo hưng thịnh và việc uống trà tại các chùa chiền, miếu mạo rất phổ biến.
Chính cuốn Trà Kinh của Lục Vũ là một đóng góp lớn, vì sau khi ông viết ra cuốn này, việc uống trà đã được nâng lên hàng nghệ thuật, cầu kỳ về cả trà cụ lẫn trà thức. Tạ Triệu Triết đời Minh đã viết:
Ở trên đời có đói ăn thiếu mặc thì còn chịu nổi nhưng mà thiếu nước uống trà thì không sao chịu được.
Ngô Khoan viết bài “Ái Trà Ca” ca tụng thú uống trà chẳng khác gì thi nhân đời trước ca tụng rượu.
Sau khi Lục Vũ viết Trà Kinh, nhiều người khác cũng có những tác phẩm viết về trà tuy không nổi tiếng bằng nhưng cũng lưu truyền sử sách. Riêng đời Minh có đến 45 quyển, nay còn giữ được trên đưới 20 cuốn nhưng văn chương cũng đã bị đời sau thêm thắt nhiều. Tuy nhiều hầu hết không qua sáu mục mà Lục Vũ đã đề cập là trà, dụng cụ uống trà (khí), nước pha trà (thủy), lửa đun trà (hỏa), người pha và uống trà (nhân), thời điểm uống trà (sự).

Đời Đường có Tô Dị (?) viết Thập Lục Thang Trà, Trương Hựu Tân viết Tiễn Trà Thủy Ký. Đời Tống có Âu Dương Tu viết Đại Minh Thủy Ký, Phù Tra Sơn Thủy Ký, Sái Tương viết Trà Lục, Tống Tử An viết Đông Khê Thức Trà Lục, Triệu Nhữ Lệ viết Bắc Uyển Biệt Lục, Hùng Phiên viết Tuyên Hòa Bắc Uyển Cống Trà Lục, Tống Huy Tông viết Đại Quan Trà Luận, Hoàng Nho viết Phẩm Trà Yếu Lục.

Đời Minh có Hứa Thứ Thư viết Trà Sớ, Chu Cao Khởi viết Động Sơn Giới (?) Trà Hệ, Phùng Khả Tân viết Giới Trà Tiên, Hùng Minh Ngộ viết La Giới Trà Ký, Cố Nguyên Khánh viết Trà Phổ, Trần Kế Nho viết Trà Đổng Bổ, Trương Khiêm Đức viết Trà Kinh, Đồ Bản Tuấn viết Mính Cấp, Điền Nghệ Hoành viết Chử Tuyền Tiểu Phẩm, Từ Hiến Trung viết Thủy Phẩm Toàn Trật.

Đời Thanh có Lưu Nguyên Trường viết Trà Sử, Dư Hoài viết Trà Sử Bổ, Mạo Tương viết Giới Trà Vựng Sao, Lục Đình Xán viết Tục Trà Kinh.
Trong tất cả những tác phẩm viết sau này chỉ Tục Trà Kinh là đáng kể, có hệ thống và tài liệu dồi dào. Lục Đình Xán tự Phù Chiêu, hiệu Mạn Đình, người huyện Gia Định, đất Tô Châu, từng làm tri huyện Sùng An, Phúc Kiến thời Khang Hi là nơi có núi Vũ Di nổi tiếng trà ngon. Tục Trà Kinh phân loại và sắp đặt các loại trà một cách mạch lạc, tài liệu minh bạch, dẫn chứng đầy đủ và phẩm bình cũng rất xác đáng. Người ta đã bảo rằng nếu ví Lục Vũ như Khổng Tử trong trà gia thì Lục Đình Xán công lao phải sánh ngang Chu Hi.

DƯỢC TÍNH CỦA TRÀ 

Theo thống kê, mỗi năm người Mỹ uống khoảng 2.25 tỉ gallon trà dưới mọi dạng thức — nóng, nguội, bỏ đá, ướp hương, có đường hay không đường, thêm mật ong, sữa, kem, chanh. Mỗi lượng trà uống trung bình chứa khoảng 40 milligram caffeine (bằng nửa caffeine trong cà phê). Thế nhưng đó chỉ là con số chia đều chứ uống trà mỗi người uống một cách, đậm nhạt khác nhau. Hiện nay trên thị trường có cả loại “decaffeinated tea” và nhiều loại dược trà dùng các loại lá (lá ổi, lá hồng …) để trị bệnh và làm tan mỡ. Những thống kê kinh tế cho thấy người Mỹ chuyển dẩn từ uống nước ngọt sang loại diet softdrink, sang nước lạnh (nước suối, nước cất …) và dần dần sang loại trà hay dược trà (herbal tea). Nếu quả như thế, hóa ra Đông phương đã đi trước Tây phương một bước xa. Ông cha ta đã uống nước lạnh và uống trà tươi hàng ngàn năm trước nhưng mãi đến bây giờ nhân loại mới công nhận một cách khoa học là trà xanh (chưa biến chế theo kiểu Nhật) và nước lã là tốt nhất cho cơ thể.

Nhiều người cho rằng uống trà có tác dụng làm giảm đau cổ họng và bớt đầy bụng. Một hóa chất trong trà là chất polyphenols có thể làm giảm nguy cơ một số chứng bệnh kể cả bệnh cứng mạch máu (atherosclerosis) và một số bệnh ung thư. Có người còn cho là uống trà sẽ gia tăng tuổi thọ.

CÁC LOẠI TRÀ 

Trà được chia ra làm ba loại chính là trà đen (tức hồng trà), trà xanh (lục trà) và trà Ô long. Cả ba loại đều cùng từ một loại cây, tức cây trà mà tên khoa học của nó là Camelia sinensis, thuộc họ Theacae, một loại cây xanh lá quanh năm có hoa màu trắng. Nhiều người còn kể thêm hai loại trà khác là trà ướp (hương) và trà bánh.

Cây trà phải trồng khoảng năm năm mới bắt đầu hái là được và thu hoạch trong khoảng 25 năm. Nếu để nguyên, cây trà có thể cao hàng chục thước nhưng để tiện việc thu hoạch, người ta hãm chỉ để cho cây cao chừng một thước, thước rưỡi là cùng. Khi cây già, người ta cắt ngang thân để cho mầm non nảy ra cho mùa năm sau. Cứ như thế, cây có thể sống tới 100 năm. Trà thường được bón bằng bã đậu nành và các loại phân hữu cơ chứ ít khi dùng phân hóa học. Người ta cũng tránh không dùng thuốc trừ sâu bọ và cây nào bị bệnh thường bị nhổ đi.
Trong quyển All the tea in China, tác giả có kê khai vài chục loại ngôn ngữ Đông Tây đều có âm na ná như trà hoặc chè. Chỉ vì cách sao tẩm, ủ trà khác nhau mà chia ra làm ba loại nêu trên. Sau đây là một số yếu tố dùng để qui định phẩm chất và giá cả trà:

1.Chủng loại cây trà
2. Địa phương trồng
3. Cao độ của vùng đất trồng
4. Điều kiện thời tiết trong mùa trà và khi hái trà
5. Thời kỳ hái trong năm
6. Giờ hái trà trong ngày
7. Tuổi của bụi trà
8. Cách lựa lá trên cây trà
9. Cách thức hái
10. Cách thức ủ trà
11. Dạng của lá trà (tùy theo cách cuộn lá mà trà sẽ ra hương vị khác nhau)
12. Cách sấy khô
13. Cách thẩm định và phân loại

Ngoài ra còn nhiều tiêu chuẩn khác nữa.


Người ta bảo rằng nước Tàu có đến hơn một nghìn loại trà (thực ra không phải theo nghĩa 1000 chủng loại mà có nghĩa là nhiều lắm) nhưng chỉ có một số đặc biệt được xuất cảng. Dẫu thế cũng đã có hàng trăm cái tên được mang ra ngoài, không phải là người thực sành sỏi, không ai nhớ hết được.
Trà được phân biệt do cách ủ (oxidation), lâu hay mau, mỗi cách sẽ cho hương vị, màu sắc, tính chất khác nhau. Loại ủ ngắn hạn nhất là trà xanh như trà Nhật Bản, Long Tỉnh (Lungching), Bích Loa Xuân (Pilochun). Loại ủ vừa gồm có Bạch Hào Ngân Châm, Bao Chủng (nhẹ nhất) rồi tới Đông Đính, Thiết Quan Âm, Thủy Tiên, Vũ Di, Ô Long (lục địa) (ủ trung bình), và tương đối đậm thì có Ô Long (Đài Loan). Trà ủ hoàn toàn là loại trà đen (hồng trà) người Âu Mỹ thường dùng. Mỗi loại trà lại mang theo nhiều dật sự ly kỳ. Nhiều loại có tên rất lạ ít khi nghe tới. Cuốn sách viết rất kỹ về từng loại trà danh tiếng là cuốn All the tea in China (Các loại trà Trung Quốc) do Kit Chow và Ione Kramer soạn. Sau đây là 50 loại danh chủng liệt kê trong sách:

Trân Mi: Chunmee (Chun Mei, Zhenmei)
Đại Phương: Dafeng
Đại Hồng Bào: Dahongpao
Phượng Hoàng Đơn Tùng: Fonghwang Tan-chung
Châu Trà, Bình Thủy Châu Trà: Zhucha, Pingshui(Gunpowder)
Hải Nam Hồng Trà: Hainan
Hoa Đính Vân Vu: ï Huading Yunwu
Hoàng Sơn Mao Phong: Huangshan Mao Feng
Huệ Minh: Huiming
Hương Phiến: Jasmine
Kính Đình Lục Tuyết: Jingting Luxue
Cưu Khanh: Jiukeng
Cửu Khúc Hồng Mai: Jiuqu Hongmei
Kỳ Môn hồng trà: Keemun (Qihong)
Cổ Lao: Kooloo
Lan Hương Lan: Hsiang (Lanxiang)
Lan Khê Mao Phong: Lanxi Maofeng
Chính Sơn: Zhengshan
Lệ Chi: Lichee
Lăng Vân (Bạch Mao): Lingyun (Baimao)
Lục Bảo: Liubao
Lưu Khê : Liuxi
Lục An Qua Phiến: Lu’an Guapian
Long Tỉnh: Lung Ching
Lô Sơn Vân Vụ: Lushan Yunwu
Mông Đính: Mengding
Bích Loa Xuân: Pi Lo Chun
Bao Chủng: Pouchong
Phổ Nhĩ : Pu-erh
Phổ Đà Phật Trà: Putuo Fo Cha
Tiền Cương Huy Bạch: Qiangang Huibai
Mai Khôi: Meigui (Rose)
Thủy Tiên: Shui Hsien (Shuixian)
Thái Bình Hầu Khôi: Taiping Houkui
Thiên Mục Thanh Đính: Tianmu Qingding
Thiết Quan Âm: Ti Kwan Yin (Tieguanyin)
Đồn Lục: Tunlu
Vi Sơn Mao Tiêm: Weishan Maojian
Bạch Hào Ngân Châm: Baihao Yinzhen
Vụ Nguyên Danh Mai: Wuyuan Mingmei
Tín Dương Mao Tiêm: Xinyang Maojian
Tây Sơn: Xishan
Anh Đức: Yingde
Ngân Châm, Ngân Phong: Yinzhen, Yinfeng
Dũng Khê Hỏa Thanh: Yongxi Huoqing
Vũ Hoa: Yuhua
Ngọc Lộ : Yulu
Vân Nam: Yunnan
Tử Duẫn: Zisun

SẢN XUẤT TRÀ 
Tiết Thanh Minh là thời điểm đánh dấu mùa hái trà. Khi đó, mùa đông băng giá vừa qua, mùa xuân vừa tới, trà non vừa nẩy ra, thích hợp cả việc thuhoạch lẫn việc sao tẩm.
Sau khi mặt trời mọc, những giọt sương vừa khô thì từng đoàn người mang gùi trèo lên đồi trà theo khu vực đã được qui định. Trà thường được trồng trên sườn đồi theo từng bậc như bậc thang. Thợ chỉ ngắt đúng ba lá non và một búp, nếu dùng làm trà Ô Long. Trà xanh lá thường rất non, nên chỉ ngắt hai lá, Ô Long phải cần lá to hơn nên phải ngắt ba. Đếøn chiều thợ đem trà đến cân để tính tiền.

Trước hết trà được để hong ngoài trời cho héo đi. Sau đó đem vào ủ. Chuyên gia phải kiểm soát luôn luôn để cho hương vị được đúng độ. Khi đã ủ đến thì, người ta mới cho trà vào sấy. Trà được sấy nhiều lần nhưng phải đúng cách để khỏi mất phẩm chất. Sau hai ngày biến chế, trà được gọi là trà sống. Tiếp theo là sàng sảy, rây, nhặt cọng và phân loại thành từng bậc khác nhau. Cũng nên thêm một điểm là dù mua trà đắt giá đến mấy, thường dân chúng ta chỉ có thể thưởng thức những loại trà kỹ nghệ. Hiện nay bên Tàu vẫn còn những vườn trà đặc biệt thuộc loại cấm kỵ, canh gác ngày đêm không cho ai bén mảng tới. Tại đây có một bộ phận chuyên môn hái và sản xuất những loại trà siêu phẩm, ngày xưa giành tiến vào cung, nay để riêng cho Trung Ương Đảng và các loại cán bộ cao cấp. Tục truyền rằng trà này không được chạm vào da thịt người nên những thợ hái phải luôn luôn đeo bao tay dài bằng lụa. Trà chỉ đụng vào cơ thể con người một lần duy nhất là khi đã pha xong, đụng vào môi bậc quân vương trước khi uống vào ruột.

Mùa hái trà tùy theo từng loại và tùy theo khí hậu. Ở ven Tây Hồ, Hàng Châu, nơi sản xuất trà Long Tỉnh, người ta bắt đầu từ tháng ba kéo dài đến tháng 10, tổng cộng 20-30 lần, mỗi lần cách nhau một tuần hay 10 ngày. Thành thử, uống trà Long Tỉnh ta sẽ thấy lá trà toàn là búp non.

Một phụ nữ hái trà chuyên môn một ngày hái được khoảng 600 gram. Cứ bốn trà sống thì được một trà chín nghĩa là một người một ngày chỉ hái được khoảng 150 gram trà khô. Một ki lô trà Long Tỉnh cần khoảng 60,000 búp trà. Nước Tàu được chia thành bốn vùng mà người ta đặt tên là Giang Nam, Giang Bắc, Tây Nam và Lĩnh Nam. Giang Nam, Giang Bắc nổi tiếng về các loại trà xanh, Lĩnh Nam có trà Ô Long, còn Tây Nam trồng nhiều trà đen, trà bánh.

ẤM NGHI HƯNG 
Nghi Hưng là tên một huyện gần Thượng Hải, thuộc tỉnh Giang Tô. Ở đây đặc biệt có một thứ đất sét rất mịn, có chứa thạch anh, mica và nhất là chất sắt. Đất sét đó dùng làm ấm trà không tráng men (unglazed), thường được gọi là ấm tử sa (purple sand). Đất tử sa không nhất thiết phải là màu tím đỏ mà có ba màu chính là màu vàng sậm (ta gọi là màu gan gà), màu đỏ sậm (ta gọi là màu da chu) và màu nâu thẫm ngả màu đen (tử sa). Tuy nhiên, trong ba loại màu đó đều có nhiều sắc độ (tùy theo lượng sắt trong đất sét nhiều hay ít), lại còn tùy theo thợ trộn các loại đất và pha chế thêm khoáng chất (nhưng tuyệt đối không dùng màu nhân tạo để nhuộm) nên các loại ấm tử sa có thể có từ màu ngà đến màu đen. Ngoài ra, Nghi Hưng cũng còn có loại đất sét màu trắng và màu xanh lục. Đất màu xanh là loại quí nhất, đã được Lục Vũ ca tụng trong bộ Trà Kinh.

Ấm tử sa không phải chỉ là một trà cụ mà còn là một tác phẩm nghệ thuật. Ấm nặn to nhỏ tùy theo dùng cho một (độc ẩm), hai (song ẩm) hay nhiều người (quần ẩm). Ấm quần ẩm có thể dùng cho ba, bốn hay nhiều người nên có cái chỉ bằng nắm tay nhưng cũng có cái to bằng cái ấm trà thường.

Về hình dáng, ấm tử sa chia làm ba loại:
Ấm theo hình kỷ hà cân đối, nghĩa là tròn trĩnh, vuông vức, lục giác, bát giác hay nhiều múi. Đó là những ấm có thể dùng khuôn làm chuẩn, chỉ điểm xuyết bằng tay. Ấm có thể hình trái đào, trái thị, trái hồng hay hoa sen, hoa thủy tiên nhưng chủ yếu là cân đối. Người thợ có thể thêm thắt nặn vung ấm, vòi ấm hay quai ấm khác đi và có thể trang trí trên thân ấm những hoa quả, con thằn lằn, con chuột … hoặc đề chữ, đề thơ để tăng giá trị.


Ấm theo hình tự nhiên, nghĩa là do sáng kiến của người nặn mô phỏng một vật thường thấy. Hình dáng có thể là cái thùng gạo, cái bị, cây thông, quả vải, búp hoa hồng, bó trúc .. Đây là những nghệ phẩm cao chứng tỏ óc thẩm mỹ và tài khéo léo của người nghệ sĩ. Thường là hình ảnh có mang một ý nghĩa tốt đẹp nào đó. Con chuột tượng trưng cho sự trù phú, lấy ý là con chuột kêu chít chít đồng âm với chữ túc là đầy đủ, bông sen tượng trưng cho sự thanh cao, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Một cái ấm cổ có hình một con ngựa, một bên có con khỉ đứng nhìn một tổ ong.Người Tàu gọi là mã thượng phong hầu (con ngựa ở trên con ong và con khỉ) nhưng đọc lên hai chữ phong hầu đồng âm với được phong tước hầu.Thành thử cái ấm mang một lời chúc thăng quan tiến chức. Lối biểu tượng đó rất thịnh hành ở Trung Quốc.


Ấm tổng hợp cả hai đặc tính trên, vừa cân đối, vừa nghệ thuật chẳng hạn như một quả bí ngô (pumpkin), có những dây cuốn thành vòi, thành quai hay một cái ấm nặn hình một bầy cá, có cái nắp là một lá sen trên là một con nhái nhỏ.

ĐẶC ĐIỂM CỦA ẤM NGHI HƯNG 

Ấm tử sa Nghi Hưng

Đất sét Nghi Hưng nung lên rất rắn chắc bền bỉ, không bị nứt dù thay đổi nhiệt độ bất thường khi đổ nước sôi vào. Đất còn có những khí khổng rất nhỏ (pores) phải soi kính hiển điện tử mới thấy được. Những khí khổng ti đó có tác dụng cách nhiệt, vừa bảo tồn hương vị, vừa không làm cho bên ngoài quá nóng. Một đặc tính khác là khi được nung, ấm không bị co lại hay biến dạng nên nghệ nhân dễ dàng làm nắp ấm được vừa vặn, khít khao.
Khi trong dạng thiên nhiên, đất sét Nghi Hưng mềm, có màu vàng, nâu đen hay xanh nhạt. Sau khi nung, đất màu vàng đổi sang màu da chu, màu đen thành màu tử sa, còn màu xanh lại biến thành màu gan gà. Màu sắc khác nhau tùy theo lượng hoá chất trong đất, nhất là chất sắt.


Đất sét được đào lên từ lòng đất sâu, phơi khô thành từng tảng. Những tảng đất đó được tán thành bột rồi được rây bằng những rây tre để lọc đi tất cả sỏi đá và các chất khác lẫn trong đất sét. Bột đất sét sau đó được đổ vào những bể nước hình chữ nhật cao khoảng thước rưỡi rồi tháo nước trong vào. Ba ngày sau, dung dịch đất và nước đó lại được gạn qua một bể khác và để nước bốc hơi đi cho keo lại. Đất sét được cắt ra thành từng bánh bán cho thợ làm đồ gốm.

Hiện nay, khi du khách đến thăm Đinh Thục Trấn (Dingshuzhen), một thành phố nhỏ trong huyện Nghi Hưng đều thấy toàn là xưởng làm đồ gốm.Họ sản xuất đủ loại, từ bồn, chậu đến ngói xanh. Thế nhưng chỉ có đồ tử sa là quí hơn cả.
Người thợ làm đồ gốm mua đất về dùng chày giã ra, vừa giã vừa cho thêm nước đến bao giờ cảm thấy đủ mềm để nặn thì thôi. Từ lúc giã đến lúc nhồi đất xong phải mất trọn hai ngày. Khi dùng dao cắt thấy đất mịn nhẵn không còn dấu vết bong bóng hơi thì mới dùng được.


Ngưòi thợ lúc đó mới đem chia tảng đất thành từng nắm cân lượng kỹ càng. Mỗi nắm đất được cán thành từng miếng phẳng. Đáy ấm, thành ấm, nắp ấm đều cắt từ miếng đất này, có khi bằng tay, có khi dùng khuôn. Sau đó, người thợ dùng máy quay bằng tay hay đạp bằng chân để ráp và gắn những miếng đất đã nặn sẵn dính với nhau và được miết cho láng bằng dụng cụ bằng gỗ hay sừng. Khi hình dáng tổng quát đã hoàn thành, đợi ráo nước người ta mới trang trí, thêm thắt những hoa văn hay viết chữ. Người thợ khéo thường hay viết tên hiệu, có khi ngày tháng chế tạo, niên đại hoặc đóng dấu vào đáy ấm khi tác phẩm hoàn tất. Triện thường hình vuông, hình tròn hay bầu dục khắc nổi. Những chiếc ấm đắt tiền có khi có thêm một cái triện nhỏ bên trong nắp ấm, hoặc một con dấu khác dưới tay cầm. Trước đây, ấm thường đóng dấu tên hãng sản xuất rõ là một món hàng sản xuất theo số lượng nhiều nhưng sau này đa số ấm đóng dấu tên người, chứng tỏ nay họ coi là một tác phẩm và nghệ nhân tự hào nên để tên mình. Dĩ nhiên cái gì cũng có hai mặt, và có xấu đẹp. Ngay cả những loại hàng bán vài đồng cũng có con dấu nguệch ngoạc. Thế nhưng đó cũng là một hiện tượng cần ghi nhận là nền công nghiệp đang chuyển hướng, mang nhiều màu sắc nghệ thuật hơn.
Ngoài con dấu có khi còn có vài chữ Hán. Chữ đề thường là chữ đá thảo do một người giỏi thư pháp (phép viết chữ) đề bằng bút tre nhọn, khắc hẳn vào thân ấm. Có thể chỉ là vài chữ chúc tụng nhưng có khi là hẳn một bài thơ, một đôi câu đối. Một cái ấm đẹp đến đâu mà chữ viết non tay thì cũng giảm hẳn giá trị.


Những loại ấm sản xuất theo kiểu công nghệ thì chữ viết hay hoa văn được in bằng một loại mực không phai. Sau đó ấm được chuyển sang cho thợ cho vào lò nung. Ấm đất thường nung trong khoảng từ 1100o đến 1200oF, tuy không nóng bằng đồ sứ nhưng ở nhiệt độ đó, ấm vẫn giữ được tính thấm nước.
Nghề nặn ấm cho đến nay vẫn đòi hỏi một thời gian học nghề lâu theo kiểu sư phụ đệ tử chân truyền. Phải mất nhiều năm mới học được hết bí quyết.Tuy nhiều khi người ta nhái lại những kiểu ấm danh tiếng cũ, nhưng cũng có nghệ nhân mới sáng tạo nhiều kiểu mới. Những người sành sỏi cho rằng với phương pháp tân kỳ, trình độ cao đẳng, nhiều ấm thời mới có nét độc đáo không kém gì những chiếc ấm do các danh sư xưa nặn ra, nếu không nói rằng trội hơn nữa. Chính quyền Trung Cộng cũng thành lập nhiều cơ quan, nghiên cứu, áp dụng khoa học để tái tạo những chiếc ấm cũ không sai một mảy. Tuy là đồ giả nhưng giá đắt không khác gì đồ cổ để bán cho những nhà sưu tầm. Ngoài giá trị lịch sử, những tác phẩm đó còn là một niềm tự hào về nghệ thuật của họ.

Trong những năm qua, tại Bắc Mỹ này đã nhiều lần triển lãm ấm Nghi Hưng. Bộ sưu tập của Tiến Sĩ La Quế Tường (K.S. Lo) được trưng bày trong khoảng 1990-92 tại Phoenix Art Museum, Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kiều San Francisco, Indianapolis Art Museum, và Ontario Museum.
Ấm Nghi Hưng cũng đã được huy chương vàng trong các kỳ chợ phiên quốc tế chẳng hạn như tại Philadelphia năm 1926 và ở Leipzig và Liege trong thập niên 1930.

ẤM NGHI HƯNG THEO THỜI GIAN 

Theo truyền tụng, Phạm Lãi là người đầu tiên tìm ra chất đất sét vùng Thái Hồ. Sau khi phá xong quân Ngô, ông về ẩn cư nơi đây, lấy việc nặn đồ gốm làm trò tiêu khiển. Thế nhưng thời đó chưa làm ấm trà.

Cứ theo những di chỉ khai quật được thì ngay từ đời Tống (920-1279) người ta đã làm ấm trà ở đất Nghi Hưng. Thế nhưng phải đến thế kỷ thứ 16, đời Minh thì những kiểu ấm nhỏ mới ra đời. Một điều lạ là không phải người Tàu nghĩ ra kiểu ấm chén mà chính là họ du nhập từ Âu Châu. Ngày xưa họ chỉ uống trà bột, quấy trong nước.

Theo sách Dương Tiện Mính Hồ Lục (Sách về các ấm trà vùng Dương Tiện) của Chu Cao Khởi thì đời Chính Đức, Gia Tĩnh nhà Minh có Cung Xuân tài nghệ tuyệt vời, là người nổi danh đầu tiên về làm ấm tử sa. Cung Xuân vốn là gia đồng của Ngô Sĩ đất Nghi Hưng thường theo hầu Ngô Sĩ đến học tại chùa Kim Sa. Trong chùa có một vị hòa thượng có tài làm đồ sứ nên Cung Xuân theo nhà sư học nghề nặn ra những tác phẩm trông chẳng khác gì đồ kim loại xưa. Khi Cung Xuân nổi danh, ông thường cùng Bộc Trọng Khiêm (đất Gia Định) khắc trúc, Lục Tử Đồng (đất Tô Châu) chạm ngọc, và Khương Thiên Lý khảm xà cừ. Tất cả đều là những người nổi tiếng đời Minh. Cung Xuân nặn ấm không lâu — truyện kể rằng ông bị quan sở tại vì yêu chuộng tài nghệ ông nên bức bách khiến ông phải bỏ xứ mà đi — nên tác phẩm của ông hiện nay lưu truyền rất ít. Sách vở chỉ còn ghi một chiếc ấm của ông hình 6 múi hiện tàng trữ tại Viện Trà Cụ Hongkong nặn năm Chính Đức thứ 8 (1513). Thế nhưng còn một cái ấm khác cũng của Cung Xuân để tại Singapore thì ít thấy sách vở nào đề cập. Theo bài “Nghi Hưng và Nghiên Mực” (Yi Hsing and Inkstones) trong tạp chí Arts of Asia, số July/August 1971 thì ông C.M. Wong, Bí Thư của Phòng Thương Mại Singapore và là Chủ Tịch Hiệp Hội Hoa Nhân tại đây có trong bộ sưu tập của ông một ấm Cung Xuân hình vỏ cây. Ấm này đề năm 1506, có triện của người nghệ sư. Phần dưới quai cầm lại còn một vết dấu tay điểm vào mà người ta bảo rằng đó là vết ngón tay thứ sáu của Cung Xuân (bàn tay phải của ông có sáu ngón).

Sau thời Cung Xuân, nghệ thuật làm ấm đất nung vùng Nghi Hưng thịnh đạt, đến đời Vạn Lịch càng có nhiều danh thủ. Lý Ngư viết là: “Trà không gì bằng dùng ấm bằng tử sa, mà vùng Dương Tiện là hạng nhất”. Từ đời Minh trở đi, việc dùng ấm tử sa để uống trà trở nên thông dụng. Người ta để ý đến phẩm chất trà đã đành mà còn kén chọn cả cách pha trà, nước nào pha trà ngon, uống lúc nào mới hợp.


Trước kia, ấm trà bằng sứ là quí nhất nhưng khi ấm tử sa ra đời thì không mấy ai còn chuộng ấm sứ nữa. Cổ nhân tổng kết ấm tử sa có bảy ưu điểm:
Chế nước sôi vào không làm trà mất hương vị, sắc hương còn nguyên
Bình trà dùng lâu, chế nước không cũng ra mùi trà
Trà vị không bị biến chất
Chịu nóng cao, mùa đông tháng giá đổ nước sôi vào không bị nứt
Ít truyền nhiệt, cầm vào không phỏng tay
Dùng càng lâu càng lên nước, bóng lộn
Có nhiều màu khác nhau, dễ lựa chọn
Vì ấm tử sa là một tác phẩm nghệ thuật nên trông ấm người ta có thể đánh giá được người nặn vào bậc nào. Thành ra, trong những nghệ nhân nghề sành sứ, thì ngành làm ấm để tên lại nhiều nhất. Sau đời Cung Xuân người ta thấy có Thời Bằng, Đổng Hàn, Triệu Lương, Nguyên Sướng và Lý Mậu Lâm là những thợ nổi danh.


Đời Vạn Lịch, Thời Đại Bân, con của Thời Bằng là người nổi tiếng hơn cả. Văn Chấn Hanh viết trong “Trường Vật Chí” là “ấm trà tử sa là loại tốt nhất, nắp vừa vặn không làm mất hương, lại không bốc hơi. Ấm do Cung Xuân chế tạo quí nhất, đều nhỏ nhắn, hình dáng lạ lùng. Thời Đại Bân chế thì có cái to, cái nhỏ …”. Cùng nổi danh với Đại Bân có Lý (Đại) Trọng Phương, Từ (Đại) Hữu Tuyền, người ta gọi là Tam Đại.

Từ Hữu Tuyền tự Sĩ Hoành, là học trò của Thời Đại Bân, có tài bắt chước các loại đồng khí xưa làm ấm hình tàu lá chuối, đài sen, củ ấu, quả trứng …
Nổi tiếng thời Vạn Lịch còn có Âu Chính Xuân, Thiệu Văn Kim, Thiệu Văn Ngân, Tưởng Bá Cung, Trần Dụng Khanh, Trần Tín Khanh, Mân Lỗ Sinh, Trần Quang Phủ, Thiệu Cái, Thiệu Nhị Tôn, Chu Hậu Khê …


Thời Vạn Lịch, ngoài việc nặn ấm, các nghệ nhân còn dùng đất tử sa điêu khắc và các chế tạo vật phẩm khác, rất thịnh hành. Người nổi tiếng nhất là Trần Trọng Mỹ ở Vụ Nguyên, An Huy. Họ Trần trước vốn ở Cảnh Đức Trần làm đồ sứ. Sau đến Nghi Hưng kết hợp nghệ thuật đồ gốm với nặn ấm, tạo ra các loại đỉnh hương, bình hoa, cục chặn giấy .. rất xinh xắn. Người nổi danh đồng với Trần Trọng Mỹ thì có Trẩm Quân Dụng, tự Sĩ Lương.
Sau đời Vạn Lịch có Trần Tuấn Khanh, Chu Quí Sơn, Trần Hòa Chi, Trần Đình Sinh, Thừa Vân Tòng, Trẩm Quân Thịnh, Trần Chấn, Từ Lệnh Âm, Hạng Bất Tổn, Trẩm Tử Triệt, Trần Tử Huề, Từ Thứ Kinh, Huệ Mạnh Thần, Tiết Hiên, Trịnh Tử Hầu …


Trên đây là những nghệ nhân nổi tiếng khéo đời Minh. Về sau, người ta mô phỏng rất nhiều những kiểu họ đã chế tạo nên những ấm nào thực sự đời Minh, cái nào đời sau khó ai biết được. Đồ tử sa lại không đề niên đại như đồ gốm nên càng khó phân biệt chân giả.
Sang đến đời Thanh, nghệ thuật làm ấm còn thịnh đạt hơn nữa. Triều đình nhà Thanh chuộng đồ tử sa nên càng coi trọng. Văn khố nhà Thanh còn ghi lượng hàng mỗi năm tiến cống vào cung. Phẩm chất cũng thêm tinh vi, xảo diệu. Ngoài ấm đất, ngưòi ta còn nặn bồn trồng cây cảnh, bình hoa, và dụng cụ dùng trong nhà. Màu sắc pha chế cũng phong phú hơn.
Nghệ nhân nổi tiếng đời Thanh rất nhiều. Người xuất sắc nhất là Trần Minh Viễn, hiệu Hạc Phong, lại có tên là Hồ Aån, chế ra hàng chục thứ ấm trà, đồ dùng khác nhau, không cái nào giống cái nào, quả là bậc thầy trong nghề. Những tác phẩm mà Trần Minh Viễn còn để lại hết sức tinh xảo, lại đầy sáng tạo. Cái thì hình một gốc mai già, cái thì hình bó củi, trông như một nghệ phẩm điêu khắc tả chân hơn là một trà cụ. Ông còn nặn những trái cây tầm thường như hạt dẻ, củ đậu phộng … trông hết sức tinh xảo, thoạt trông không ai bảo là một vật bằng sành.


Sách Trùng San Kinh Khê Huyện Chí, viết năm thứ hai đời Gia Khánh, (Thanh) dùng bốn chữ “vạn gia yên hỏa” (nhà nhà đều khói lửa) để chỉ khung cảnh sinh hoạt bấy giờ. Đời Ung Chính, Càn Long thì có Trần Hán Văn, Dương Quí Sơ, Trương Hoài Nhân. Chế tạo đồ dùng trong cung vua thì có Vương Nam Lâm, Dương Kế Nguyên, Dương Hữu Lan, Thiệu Cơ Tổ, Thiệu Đức Hinh, Thiệu Ngọc Đình nhưng thiên về ấm có trang trí, màu sắc. Những chuyên gia cho rằng kết hợp hai kỹ thuật của Cảnh Đức Trấn (nơi chế tạo đồ sứ tráng men) với Nghi Hưng đã làm giảm đi phong vị của ấm tử sa, bản chất vốn giản phác, gần thiên nhiên. Cầu kỳ hóa một nghệ thuật vốn dĩ đạm bạc đã khiến cho nghệ thuật nặn ấm đổi hẳn sắc thái, mất đi tính nguyên ủy của nó.

Sang đời Gia Khánh, những người tên tuổi có Huệ Dật Công, Phạm Chương Ân, Phan Đại Hòa, Cát Tử Hậu, Ngô Nguyệt Đình, Hoa Phượng Tường, Trinh Tường, Quân Đức, Ngô A Côn, Hứa Long Văn …

Thời Đạo Quang có Dương Bành Niên và em gái là Dương Phượng Niên cùng với Trần Hồng Thọ, Thiệu Đại Hanh là những danh gia. Trần Hồng Thọ hiệu là Mạn Sinh, đời Gia Khánh làm huyện tể đất Lật Dương. Ông là người giỏi viết chữ, vẽ tranh, khắc triện lại thích sưu tầm ấm tử sa. Nhiều ấm do Dương Bành Niên và nhà họ Dương chế tạo ra, đợi cho hơi khô, Trần Hồng Thọ dùng dao tre khắc, vẽ, viết chữ, đề thơ lên rồi mới đem nung. Việc kết hợp hai tài danh, một nặn ấm, một thư họa là sáng tác mới của thời đó. Ấm thường có đề “A Mạn Đà Thất” (là tên thư trai của họ Trần) hay dưới đáy có khắc “Bành Niên”. Đời sau gọi là ấm Mạn Sinh (Mạn Sinh hồ).


Theo chân Trần Hồng Thọ, nhiều danh sĩ khác như Kiều Trọng Hỉ, Ngô Đại Trừng cũng đứng ra chỉ đạo việc nặn ấm. Từ đó, một kỹ xảo vốn chỉ được coi như nghề mọn nay đã lan sang cả giới nho gia. Tuy không được phổ biến như thư họa nhưng cũng không còn là một tiện nghệ như trước nữa.
Một danh sĩ vốn giỏi về vẽ trúc là Cù Tử Trị lại đem việc khắc trúc, họa trúc vào trang trí trên ấm. Họ Cù không những mang thư pháp mà còn khắc hẳn những cành trúc, cành mai nghĩa là coi chiếc ấm như một tờ giấy hay vuông vải để thi thố tài hàn mặc.
Còn Thiệu Đại Hanh thì là một nghệ nhân nổi tiếng không kém gì Dương Bành Niên. Trong khi Dương nổi danh về tinh xảo thì Thiệu có tiếng về giản phác. Ông không cầu kỳ nhưng cũng có nhiều sáng kiến độc đáo. Chính kiểu nắp ấm đầu rồng, khi rót thì lè lưỡi ra là do ông khởi thủy, tới nay vẫn còn nhiều người bắt chước và khá phổ biến trên thị trường.
Cuối đời Thanh, Chu Kiên lại có sáng kiến dùng thiếc và ngọc để bịt hay khảm vào ấm tử sa. Nhiều thân ấm được bịt thiếc và viết chữ rồi dùng ngọc trạm thành quai, thành vòi ráp vào. Thế kỷ thứ 19 nhiều người còn bịt đồng hay thau nhưng nói chung những kiểu này không được chuộng lắm.

Vào thời điểm này, việc thương mại giữa Trung Hoa và nước ngoài đã phát triển. Nhiều cường quốc đã chiếm những lãnh địa ở duyên hải hay cưỡng ép nhà Thanh nhường làm tô giới và Thanh đình đã phải mở cửa cho họ vào buôn bán. Trà Tàu trở thành một nông phẩm xuất cảng quan trọng và ấm Tàu cũng được sản xuất qui mô để bán ra ngoài. Nhiều công ty thành lập tại Thượng Hải, Nghi Hưng, Thiên Tân, Hàng Châu đại lý bán ấm Nghi Hưng. Những kiểu ấm thời đó cũng vẫn theo mô dạng cũ. Một công ty ở Thượng Hải là Thiết Họa Hiên đến nay vẫn còn. Thiết Họa Hiên nổi tiếng vì chữ viết trên ấm rất đẹp. Những nghệ nhân nổi tiếng của họ gồm có Tưởng Yến Hanh, Trần Quang Minh, Phạm Đại Sinh, Vương Diễn Xuân, Trình Thọ Trân. Những ấm xuất cảng thường có cả con dấu của nghệ nhân lẫn con dấu của hãng. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 có hai hãng khác là Chân Ký và Ngô Đức Thịnh cũng phát đạt.

Thời Dân Quốc ấm Nghi Hưng được xuất cảng rất nhiều sang Nhật Bản, Đông Nam Á, Âu Châu và Mỹ Châu. Thời đó cũng có nhiều thợ khéo nhưng kiểu thường giản dị, cân đối chứ không cầu kỳ như thời trước. Có lẽ vì nhu cầu thương mại và thị hiếu đã thay đổi. Đến thời loạn lạc thập niên 1930, 1940 việc sản xuất ấm phải đình trệ. Sau khi Trung Cộng nắm quyền, việc sản xuất được qui tụ thành công xã nhưng không phát triển được.Thời Cách Mạng Văn Hóa lại một lần nữa kỹ nghệ này bị vùi dập. Trong chế độ Cộng Sản, uống trà bị coi là một tàn tích tư sản, bóc lột, phi sản xuất nên bị bài xích. Việc làm ấm vì thế cũng bị triệt hạ. Sau khi Đặng Tiểu Bình thi hành chính sách cải tổ, Trung Cộng phục hồi ngành nặn ấm tửsa. Năm 1979, xí nghiệp Nghi Hưng Tử Sa đã sử dụng đến 600 nhân công. Hiện nay, một số thợ chuyên môn trẻ và tương đối có trình độ đã khôi phục lại được công nghiệp này, nhất là càng ngày càng có nhiều người ưa chuộng và sưu tập.

Nói đến ấm trà không thể không nhắc đến ấm sản xuất tại Đài Loan. Từ khi chính quyền dân quốc thiên di sang hòn đảo này, nhiều người trong số di dân là nhà sưu tập hoặc dân bản xứ vùng Giang Tô. Nghề làm ấm cũng được truyền theo. Ấm Đài Loan cũng đẹp không kém gì ấm sản xuất tại lục địa. Về phương diện tinh xảo và cầu kỳ có phần hơn. Tuy nhiên giá cả thường đắt một chút.
Hongkong và Singapore cũng là nơi có nhiều danh thủ trong cả sưu tập lẫn chế tạo ấm. Viện Bảo Tàng Trà Khí Hongkong (Flaggstaff House Museum of Tea Ware) được chính thức mở cửa từ ngày 27 tháng giêng năm 1984 trong đó Tiến sĩ K.S. Lo cống hiến hơn 600 món, từ trà cụ thời Tây Chu (thế kỷ 11 trước TC) đến tận gần đây. Chính Viện Bảo tàng này đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm, trình diễn phương thức uống trà, và thi nặn ấm (ba lần 1986, 1989 và 1992) đã được rất nhiều người hâm mộ và tham dự. Sáng tác mới của nghệ nhân đời nay thật phong phú, phối hợp được quan điểm Đông và Tây thoát hẳn những mô dạng của đời trước.


Phong khí uống trà hiện nay cũng trở thành một phong trào, tuy không rầm rộ như những thưởng thức khác nhưng cũng rất đáng kể. Nhiều trà thất, hiệp hội, trung tâm, tổ chức và nhóm nghiên cứu được thành lập khắp nơi trên thế giới (kể cả tại Mỹ) nhất là tại những nơi có nhiều Hoa Kiều. Tại Hoa lục (Bắc Kinh, Hàng Châu, Quảng Châu) và Đài Loan, Hongkong, Singapore lại càng phát triển. Lại có những tạp chí bằng Anh, Pháp, Hoa ngữ chuyên cho những người thích trà ngon và chuộng việc sưu tập ấm tử sa.
Một điểm đáng lưu ý là hiện nay các kiểu ấm đã tiến lên một bước rất xa. Trước đây nghệ nhân vẫn coi ấm là chính, hình dáng thay đổi chỉ cốt để chứng tỏ cái xảo diệu kết hợp mô thức thiên nhiên với công dụng của trà cụ. Ngày nay, nhiều kiểu ấm đã gần như thoát hẳn cái công dụng pha trà. Có cái hình xe cút kít, chiếc ghế mây, cái giếng, cái rương, đồng tiền … Tuy lạ mắt nhưng không tiện. Nhà Thiên Nhân thì họa nhiều kiểu có hình dáng như những tác phẩm điêu khắc mới, trông cũng hay và tân kỳ. Nhiều nghệ nhân cũng nặn tượng, tuy tinh xảo nhưng gần như không liên quan gì đến những đặc tính độc đáo của đất tử sa.

Việt Nam hiện nay cũng có nhiều nơi nặn ấm, thường là bắt chước kiểu Tàu. Mấy năm trước, có người về thăm quê đem sang cho tôi một bộ đồ trà trạm bằng đá cẩm thạch hồng, vân trắng. Ấm chén theo hình hoa sen, đĩa là một lá sen. Tuy nhiên đây là loại ấm để chưng vì không thể dùng vào việc pha trà. Việt Nam cũng làm ấm theo kiểu Nghi Hưng nhưng chưa tinh xảo. Nếu thực sự muốn chiếm một chỗ đứng trên thị trường, chúng ta còn phải đầu tư và học hỏi nhiều.

TRÀ CỤ 
Nói tới ấm trà mà không nhắc qua tới những dụng cụ phụ thuộc thì kể cũng thiếu. Cùng với ấm, người uống trà phải có chén, chén tống chén quântheo kiểu Việt Nam hoặc một ấm chuyên theo kiểu Tàu. Có những loại chén kiểu làm bằng đất tử sa nhưng cũng có những chén sứ mỏng gọi là sứ vỏ trứng. Tùy ý thích, mỗi người có một cách chọn màu, chọn kiểu. Hiện nay người ta cũng chế ra nhiều kiểu chén lạ mắt, có khi trông như một ống trúc, có khi hình củ lạc (đậu phộng). Ngoài ra phải có đĩa đựng, cũng xinh xinh nho nhỏ cho hợp với chén uống trà. Ấm màu nào thì người ta chọn chén và đĩa cũng màu đó. Thế nhưng thường thì chén chỉ có những màu thông dụng như màu nâu đậm, màu đỏ hay màu vàng chứ không thấy mà xanh hay màu đen. Ngoài ra còn phải có bình chuyên trà, bồn đựng bã trà và chứa nước tráng ấm, thuyền trà (cái chậu nhỏ để ấm và hứng nước trong ấm trào ra), đĩa lớn để ly, kén cho đủ một bộ tiệp màu đã khó huống hồ nếu nhiều ấm, nhiều màu, nhiều kiểu.
Người kỹ hơn còn mua cả hộp đựng trà cũng bằng đất nung và ống đựng những vật dụng linh tinh như cóng xúc trà (giống như một cái thìa bằng gỗ hay một ống tre vát một đầu để lường trà trước khi đổ vào ấm), đồ móc bã trà (gọt bằng gỗ hay tre), tăm thông vòi, cái kẹp chén (để gắp chén khi tráng nước sôi hầu vệ sinh và không phỏng tay), khăn lau … Kiếm được cái khay trà vừa vặn cho mỗi bộ cũng không phải dễ dàng.


Dĩ nhiên không thể thiếu cái ấm nấu nước pha trà bằng kim loại, bằng sứ hay ấm điện. Cũng nên có một cái bình thủy để chứa nước nóng mặc dù nhiều người kỹ không chịu dùng nước bình thủy mà dùng bình tự hâm nóng. Cầu kỳ hơn thì mua cả nhiệt kế và”timer” để hãm trà cho thật chuẩn.Người khó tính lại còn cho rằng phải bếp than mới ngon. Thế nhưng nếu máy móc quá như thế thì uống trà không còn thú vị được bao nhiêu.

CÁCH DÙNG ẤM 

Nên chọn ấm như thế nào? Câu hỏi đó không phải dễ trả lời. Nó tùy theo nhu cầu. Thường thì chúng ta chỉ uống một mình hay hai người nên ấm không nên lớn quá. Ấm nào chỉ đủ rót ra hai tới bốn ly là vừa. Ấm độc ẩm (chỉ rót được một ly) cầm lóng cóng mà lại mất công rót đi rót lại hoài, không tiện. Ấm song ẩm dùng khi uống một mình và nếu uống hai người thì phải loại lớn hơn để mỗi lầm rót ra đủ cho mỗi người hai chén. Cũng nên có thêm một hai ấm lớn phòng khi phải đãi “tục khách” sau những buổi họp mặt đông người.


Ấm dùng hàng ngày không nên mua loại hình dáng kỳ dị, khó pha và cũng khó rửa. Ấm trơn hoặc ấm hình kỷ hà, trang trí nhã nhặn, diểm vài chữ viết … là tiện nhất. Trà, ấm cũng không thoát khỏi qui luật tiền nào của nấy tuy rằng nhiều khi cũng mua được một cái ấm giá hời. Những ấm đắt tiền thường là đất tốt, da mịn, trông qua cũng biết loại thượng phẩm. Nếu thực sự muốn dùng ấm vào mục đích uống trà, ta nên kiếm những kiểu giản phác, miệng rộng thân bè (như kiểu của Huệ Mạnh Thần) để dễ châm và thay bã trà. Những kiểu lạ lùng, kiểu cọ để chưng hơn là để dùng. Ấm trà bán theo bộ, nghĩa là đủ mọi thứ trong một “set” thường không phải là loại hảo hạng, chỉ dùng trong việc tiếp khách đông người. Ấm rẻ tiền hạng soàng, sờ nhám tay, trong lòng ấm chỗ lồi chỗ lõm, thô tạo.


Ấm mua về không nên dùng uống ngay. Tốt hơn cả là dùng giấy nhám nhuyễn đánh trong ngoài cho sạch sẽ, trơn tru hết những bụi đất sét còn bám vào. Sau đó phải rửa cho hết mùi đất. Thường thì nên nấu trong nước sôi một lúc cho kỹ hơn. Những người chuyên môn chỉ là phải cho trà cũ vào nấu trong ba tiếng đồng hồ để trà thấm vào những khí khổng khiến ấm sậm màu hơn và nhiễm mùi trà. Nếu không phải pha trà và đổ đi bốn lần đầu.Vũ Thế Ngọc chỉ một “bí quyết” của ông là đem ấm ninh trong trà trong bảy ngày đêm, đem ra rửa sơ rồi ủ vào trà trong hai tuần, ấm sẽ cũ như đã dùng hàng trăm năm. Các chuyên gia nói là nếu như định chọn ấm để dùng cho loại trà ngon thì không nên tôi ấm bằng trà thường mà phải dùng trà cùng loại vì mặt trong ấm sẽ nhiễm mùi và ảnh hưởng đến trà sau này.


Theo thời gian, ấm uống trà lâu ngày cũng ngả màu dần, chuyển sang đậm hơn lúc mới mua và cũng bóng hơn. Ấm tử sa không nên rửa hay cọ bên trong mà chỉ tráng bằng nước nóng, để cho khô và dùng khăn sạch lau bên ngoài. Vì thế ấm dùng lâu năm có đóng một lớp cao, càng dày, càng quí. Mỗi cái ấm chỉ nên dùng một loại trà để hương vị thuần nhất. Một bộ trà dùng lâu trở nên thân thiết như một người bạn, khác hẳn những sưu tập khác chỉ là sở thích mà không có liên hệ trực tiếp với đời sống hàng ngày. Có người cầu kỳ còn ví rằng mỗi lần uống trà là phối hợp cả ngũ hành kim (ấm đun nước), mộc (trà), thủy, hỏa và thổ (bình trà). Người Việt Nam ta không coi uống trà như một thứ nghi lễ như người Nhật, lại cũng không huê dạng, phô diễn như người Tàu. Tuy cũng chuộng ấm Tàu, trà Tàu nhưng thường là một phần của sinh hoạt làm tăng hương vị cho đời sống. Không ai nghĩ rằng phải cất công đi hàng nghìn dặm để kiếm cho được một hũ nước pha trà.

CÁCH PHA TRÀ 

Pha trà là một nghệ thuật. Chọn ấm, chọn trà đã đành mà còn phải kén cả nước. Thường thì nên dùng nước lọc hoặc nước suối. Loại nước cất người ta chê là nhạt. Mộït nguyên tắc chung là lục trà hay ô long dùng ấm nhỏ, chỉ có hồng trà mới dùng ấm lớn. Ấm nhỏ hãm trà mau, độ ủ trà càng cao càng để lâu. Sau đây là phương pháp pha trà của nhà Thiên Nhân (Tenren), một hãng bán trà danh tiếng của Đài Loan :


Sửa soạn đầy đủ dụng cụ, gồm bình trà, thuyền trà (cái bát lớn để ấm), bồn (bình đựng nước đổ đi, nắp là một cái đĩa có lôõ hủng để nước chảy xuống, dùng làm đĩa đựng chén), chén đựng trà và nước sôi.
Tráng bằng nước sôi để cho ấm chén nóng đều, trà pha ngon hơn.
Đổ trà đầy khoảng nửa ấm
Đổ nước sôi cho đến khi nước tràn ra ngoài. Đóng nắp lại.
Trong giây lát (trong vòng 15 giây) đổ hết nước ra thuyền trà. Đổ nước trà đó vào bồn. Lý do là để cho trà tơi ra hầu nước trà được ngấm đều.
Lại đổ đầy nước và đóng nắp lại. Đợi chừng 45 giây đến 1 phút cho trà ngấm.
Trong khi chờ đợi, đổ nước vào thuyền (trong có ấm) cho đến khi ngập khoảng một nửa.
Rửa chén bằng cách xoay tròn chén trong thuyền, nơi tay cầm. Lấy ra xếp lên bồn.
Đủ 45 giây đến một phút, nhấc ấm ra. Gạt nước bám vào chôn ấm lên thành thuyền trà.
Rót trà theo kiểu xoay tròn hay qua lại để cho trà trong mỗi chén đều đậm bằng nhau, không chén nào lợt hơn chén nào.


Uống trà. Uống chầm chậm để thưởng thức hương vị.
Tiếp tục đi lại từ bước thứ sáu, mỗi lần thêm chừng 15 giây.
Theo hết được chu kỳ này chúng ta thấy hơi rắc rối và huê dạng. Thực ra, pha trà chỉ đặt nặng hai điều. Một là phải có đủ nước sôi để tráng ấm, rửa ly cho được rộng rãi. Trước khi uống cũng nên rót đầy nước vào ấm, vào thuyền trà để hâm cho ấm và ly nóng kỹ. Ngay cả đĩa đựng chén cũng rửa bằng nước sôi. Có như thế, trà cụ khi bắt đầu pha mới khô ráo và sạch sẽ.
Hai là trà phải đủ, không thể hà tiện – nghĩa là trà khô trước khi pha phải khoảng 1/3 tới 2/5 ấm – và khi nở đều phải chặt ấm. Nước phải đủ nóng, trà phải đủ lượng thì khi pha mới bốc hơi. Không gì chán bằng một ấm trà pha nhạt nhẽo.
Khi châm nước vào ấm, cũng nên quá tay một chút để nước tràn ra ngoài và khi đậy vung vào, nước lại trào ra một lần nữa. Lúc đó mới tưới thêm cho ướt cả ấm. Nhìn những giọt nước bên ngoài bốc hơi nghi ngút cũng là một cái thú và cũng là một cách để lượng định thời gian chờ ngấm trà.Nước đầu tiên rửa trà phải đổ đi, nước thứ hai và nước thứ ba ngon hơn cả. Trà ngon có thể uống đến nước thứ bảy, thứ tám. Khi uống xong làm thế nào phải còn đủ nước để rửa ấm, rửa ly một lần nữa trước khi cất. Pha trà là một công việc mà ngưòi ta phải tiết độ, nhịp nhàng. Nếøu nói rằng ngoại vật ảnh hưởng đến tâm hồn thì đây cũng là lúc để cho lòng mình lắng dịu.


Về trà, trà ngon bao giờ hơi lên cũng đượm. Có loại thì thơm ngát, nhẹ nhàng thanh thoát như mùi lan, có loại lại thơm nồng như da thịt một đứa trẻ bụ bẫm (theo mô tả của Lâm Ngữ Đường). Trà ướp thường là thứ phẩm, dẫu là ướp sâm. Uống trà cũng ít ai ăn thêm đồ khác như bánh kẹo. Trà đắt tiền, bán tại những tiệm trà lớn thường có cái hương vị riêng độc đáo. Loại thượng phẩm, trăm rưởi hai trăm một pound, tính ra cũng không phải là quá đắt.
Người ta vẫn cho rằng trà đạo của Nhật chú trọng về nghi thức, còn cách uống trà của Tàu nặng về phẩm chất của trà. Người Trung Hoa coi việc uống trà là một hình thức thưởng ngoạn trong khi người Nhật rất chặt chẽ về thủ tục, coi việc uống trà là một hình thức tế lễ hơn là đi tìm hương vị.Có lẽ vì trà đạo của Nhật do các thiền sư truyền bá, và họ dùng trà để “tìm sự hòa hợp giữa con người với con người, đề cao giá trị tinh thần, và thu ngắn khoảng cách giữa nhân và thiên”.

KẾT LUẬN 

Trên thực tế chúng ta hôm nay may mắn hơn cổ nhân ngày xưa nhiều. Nếu thích, chúng ta có thể mua và thử đủ các loại trà. Trong tiệm có bán mọi loại, từ trà Đài Loan đến trà Trung Quốc, trà Nhật Bản, trà Tích Lan. Trà trong hộp cũng có mà trà rời cũng có. Lại thêm một thứ trà tiện dụng, rẻ tiền là trà bao, muốn pha chỉ nhúng vào ly nước nóng là xong. Người nào giản tiện nữa có thể mua cả trà đóng hộp như nước ngọt.


Ấm cũng thật nhiều loại. Trong nhiều tiệm bách hóa, có những ấm giá chỉ hai ba đồng. Nhưng nếu ai thích hàng nghệ thuật hơn, cầu kỳ hơn thì từ năm mười đồng, đến vài chục, vài trăm cũng có. Cái nào cũng đích ấm Tàu, chẳng cần thử như kiểu Nguyễn Tuân để úp xuống xem vòi có bằng miệng, hay thả vào nước xem có cân không. Tùy theo giá tiền mà chúng ta có được bộ đồ trà vừa ý. Người thích sưu tập thì chỉ cần bỏ ra một nghìn đồng là có thể có được hai chục chiếc ấm Nghi Hưng, Đài Loan. Thế nhưng cái yếu tố quan trọng nhất để thưởng thức trà là một khung cảnh yên tĩnh, một tâm hồn thư thái thì vẫn là cái gì khó kiếm. Cho nên mỗi khi có một buổi sáng thanh tân, khi uống trà tôi vẫn thường nhẩm đọc:

Nhất oản hầu vẫn nhuận
Nhị oản phá cô muộn
Tam oản sưu khô trường
Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển
Tứ oản phát khinh hãn
Bình sinh bất bình sự
Tận hướng mao khổng tán
Ngũ oản cơ cốt thanh
Lục oản thông tiên linh
Thất oản khiết bất đắc
Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh …

Chén thứ nhất làm trơn cổ họng
Chén thứ hai làm tan nỗi buồn phiền
Chén thứ ba thấm vào ruột đang khô héo
Chỉ còn lại năm nghìn cuốn sách
Chén thứ tư làm mồ hôi rướm ra
Những chuyện bất bình trong đời
Cũng theo lỗ chân lông mà bay đi
Chén thứ năm làm cơ thể sạch sẽ
Chén thứ sáu đưa ta tới cõi tiên
Chén thứ bảy không uống được nữa
Chỉ thấy hai bên cánh tay gió phần phật thổi

Những câu này in ngay trên hộp đựng trà của nhà Thiên Nhân, dưới cái tên Thất Oản Trà của Lô Đồng.


Việt Nam cũng là một trong nhưng quê hương của cây trà, lại phổ thông, từ thành thị đến thôn quê đâu đâu cũng uống. Những đồi trà của ta cũng nổi tiếng, từ thượng du Bắc Việt đến cao nguyên Trung phần đều có những loại trà độc đáo. Thế nhưng một phần kỹ thuật của người mình chưa tinh, lại chưa biết cách điều chế, quản trị để sản xuất và tiêu thụ một cách qui mô nên hầu như thế giới không ai biết đến trà Việt Nam. Thành thử, trà của ta vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi quốc nội, hoặc dùng làm quà mỗi khi có dịp ra nước ngoài. Cạnh tranh được với người chắc cũng còn phải một thời gian lâu.
11/1996

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Việt Ngữ

1.     Vũ Thế Ngọc, Trà Kinh, EastWest Institute Press 1987

2.     Nguyễn Tuân, Vang Bóng Một Thời, Cảo Thơm 1972

3.     Bảo Sơn, Trà Đạo (bản dịch cuốn The book of Tea của Okakura Kakuzo), Nhà Xuất Bản Tổng Hợp An Giang 1990

4.     Phan Quốc Sơn, Thú Chơi Những Ấm Trà Đất Nung Cổ, Nguyệt San Y Tế 2/96

II. Anh Ngữ 

1. Kit Chow và Ione Kramer, All the Tea in China, China Books and Peridicals, Inc. 1990
2. Roberta Stalberg, Shopping in China, China Books and Peridicals, Inc. 1988
3. Nhiều tác giả, The Book of Tea, Bản Dịch của Deke Dusinberre, Flammarion Paris
4. Arts of Asia, Yi Hsing and Inkstones, July/August 1971
5. Arts of Asia, Flaggstaff House Museum of Tea Ware 1984-1994, March/April 1994
6. Lin Yutang, The Importance of Living, The John Day Company, 1937 (kể cả bản dịch của Nguyễn Hiến Lê và bản chữ Hoa “Sinh Hoạt Đích Nghệ Thuật”)
7. Herbert E. Plutschow, Historical Chanoyu, The Japan Times, Ltd. Tokyo 1986
8. Hobson R.L., The wares of the Ming Dynasty, Charles E. Tuttle Company 1962
9. Tài liệu trong Internet
10. The K.S. Lo Cllection, Flagstaff House Museum of Tea Ware, Yixing, purple clay wares, Urban Council of Hongkong 1994


III. Hoa ngữ
1.
 Minh Đại Đào Từ đại toàn, Nghệ Thuật gia xuất bản xã, Đài Bắc 1989
2. Thanh Đại Đào Từ đại toàn, Nghệ Thuật gia xuất bản xã, Đài Bắc 1989
3. Chu Trọng Thánh, Bắc Tống Trà Chi Sinh Sản Dữ Kinh Doanh, Học Sinh Thư Cục, Đài Loan 1985
4. Lâm Vĩ Hạo, Lục Trà, Sinh Hoạt Y Học Thư Phòng, Đài Bắc 1995
5. Lưu Phi Bạch, Trung Quốc Công Nghệ truyền kỳ, Tinh Quang, Đài Bắc 1987
6. Ngô Trí Hòa, Trà Đích Văn Hóa, Hành Chính Viện Văn Hóa Kiến Thiết Ủy Viên Hội ấn hành, Đài Bắc 1987.

http://hatcat79.com/Vanhoc/TraTauvaAmNghiHung.htm

Posted in Uncategorized | Leave a comment

ĐÁNH GIÁ ẤM TỬ SA

– Dùng ống nắp ấm trượt nhẹ miệng ấm 3-4 vòng nghe âm thanh 2 vật ma sat’, âm thanh đanh như sắt, giòn giã như ngọc như đá, như vậy, chất đất được xem là tốt
– Bên trong ấm có những chấm sáng như kim tuyến, nhưng đó là thạch anh mà khoáng tử sa vốn có
– Danh từ “Tử sa” la danh từ chung cho tất cả các loại đất khoáng, có rất nhiền loại, nhưng loại thường thấy là đất tử sa: Hồng sa, Lục sa, Hắc sa, Đoàn sa, hiếm hơn cả là Lam sa …
– Ấm tử sa có độ bóng sáng mập mờ, ko diễm lệ, bề ngoài lồi lõm như có cát mịn, nhìn kĩ có thể thấy được, không  trơn bóng nhưng tay sờ vào thì láng mịn.

1 – Chất đất

– Dùng ống nắp ấm trượt nhẹ miệng ấm 3-4 vòng nghe âm thanh 2 vật ma sat’, âm thanh đanh như sắt, giòn giã như ngọc như đá, như vậy, chất đất được xem là tốt
– Bên trong ấm có những chấm sáng như kim tuyến, nhưng đó là thạch anh mà khoáng tử sa vốn có
– Danh từ “Tử sa” la danh từ chung cho tất cả các loại đất khoáng, có rất nhiền loại, nhưng loại thường thấy là đất tử sa: Hồng sa, Lục sa, Hắc sa, Đoàn sa, hiếm hơn cả là Lam sa …
– Ấm tử sa có độ bóng sáng mập mờ, ko diễm lệ, bề ngoài lồi lõm như có cát mịn, nhìn kĩ có thể thấy được, không  trơn bóng nhưng tay sờ vào thì láng mịn

Dùng nắp ấm trượt nhẹ quanh vòng miệng ấm và nghe âm thanh phát ra để phân biệt chất đất tử sa

Bề ngoài ấm tử sa nhìn thì như không bằng phẳng, không trơn bóng, như có những hạt cát mịn lồi lõm

2 – Nắp ấm

– Cầm ấm trên tay, quay nhẹ nắp ấm, quá trình quay trơn trượt, ko vân, ko gềnh là đạt
– Vành trong miệng ấm ko thô ráp
– Ống nắp ấm phải khít với miệng ấm
– Hãy để ý khi rót nước, miệng ấm có rò nước hay không: Không rò là tốt, rò 1-2 giọt là bình thường, rò quá nhiều là không đạt

Nước rò ra từ náp ấm quá nhiều khi rót là không đạt

 3 – Vòi

– Dòng chảy: Khi rót nước, nước ra phải suôn thành dòng và tròn, do hinh dạng ấm có thể khác nhau nên dòng chảy cũng có thể  khác nhau, có ấm ra dòng nước tròn, có ấm ra dòng nước xoắn vỏ đỗ. Tuy vậy, độ suôn của dòng chảy không do đó mà thay đổi
– Độ ngắt nước: Ngắt nước phải dứt khoát, đọng 1-2 giọt co thế chấp nhận, nhưng tốt nhất là ko đọng giọt nào
– Ấm mới ra lò chỉ có mùi đất nung, hỏa khí, ngoài ra không còn mùi gì khác. Nếu ấm đã từng pha trà thì có hương trà nhẹ

Dòng nước trơn, đều

4 – Thông khí

– Dùng miệng thổi vào vòi ấm, đồng thời dùng ngón tay bỏ cách khí khổng trên nắp 1cm, nếu như có gió bay ra từ khí khổng mà nắp ấm không rung rinh như vậy là độ thông khí đạt
– Độ thông khí, độ suông của dòng chảy, độ ngắt nước. 3 điểm co sự tương thông với nhau nên dùng hành động trên co thể phân biệt tốt – xấu.

 

Dùng miệng thổi vào vòi ấm, nắp không bị thổi bồng lên

 Nắp ấm bị thổi bồng lên (không đạt)

5 – Công và Khoản (triện, con dấu)

– Công năng là khá quan trọng: miệng ấm ko quá nhỏ, khó bơi xác trà, quai ấm cầm phải thuận tay, không quá nhỏ hẹp, dễ bị bỏng. Ấm lớn, ấm nhỏ tùy theo nhu cầu sử dụng của mỗi người.
– 3 điểm: vòi, miệng, quai ấm phải thẳng, còn bằng hay không thì tùy theo hình dạng của ấm. Nếu là ấm hoa văn  có thể ko bằng, nhưng nhất định phải thẳng
– Ống nắp ấm càng dài thì càng tốt
– Ấm tròn: yêu cầu phải “tròn-vững-ngay-đều”
– Ấm vuông: cạnh, góc, viền (nếu có) phải ngay và đều. Nếu là cạnh cong thì phải cong đều các mặt
– Ấm hoa văn: phải biểu hiện được vẻ đẹp hình thể chủ đề và tự nhiên, nhưng ko ảnh hưởng đến công năng của ấm

  • Hoa văn trườu tượng phải thể hiện được cái hồn của chủ đề
  • Hoa văn sự vật, động vật phải nét, sinh động
  • Điêu khắc chữ phải đồng thể (có sự tương đồng kiểu chữ). Khắc họa nét sâu nét cạn phải tinh tế, sinh động, có hồn

– Ấm gân vân: các múi phải đều nhau, nắp ấm phải khớp với tất cả các múi
– Khoản: khoản chính dưới đáy ấm, thường khoản “họ” của tác giả nằm ở dưới quai ấm, trong nắp ấm thường là “tên” và “họ”… đôi khi có khoản ở trong bụng đáy ấm hay là hông bên trong của ấm (nhằm mục đích chống giả mạo)

Ba điểm 1-2-3 phải thẳng hàng

Khoảng cách từ vòi tới miệng ấm phải bằng khoảng cách từ miệng tới quai ấm

Trong thực tế, muốn tìm được 1 chiếc ấm đạt được tất cả những điếu kịên ở trên thì thật là khó, nếu như được 70% – 80% những điều kiện đấy cũng có thể coi như là ấm tốt vậy.

Sưu tầm từ Internet

http://shophanghiem.com/index.php/baiviet/18-danh-gia-am-tu-sa

Posted in DRINKING | Leave a comment

Chất liệu làm ấm tử sa nghi hưng

Chất liệu làm ấm tử sa nghi hưng

Updated about 6 months ago · Taken at Núi Hoàng Long Sa
Uống trà là nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày, là thú chơi tao nhã của nhiều người Việt. “Đồ uống trà không gì tuyệt diệu bằng ấm tử sa”, nghe lời nhà nho Lý Ngư, người đời Minh, Trung Quốc, ca ngợi nên ngày ngày có biết bao người kỳ công đi kiếm cho được những chiếc ấm, chén tử sa độc đáo để mang về thưởng trà. Vua chúa quan lại thời phong kiến xưa để thỏa mãn thú chơi tao nhã của mình, nên mỗi đoàn đi sứ Trung Hoa đều lĩnh nhiệm vụ đến các lò gốm ở Cảnh Đức trấn, tỉnh Giang Tây để ký kiểu đồ gốm sứ mang về thờ phụng, trưng bày, sử dụng. Nay, những người sành trà cũng có thú ký kiểu trà cụ ở những lò gốm Nghi Hưng. Hồn Việt trên trà cụ Nghi Hưng Một sớm lang thang trên Trung tâm thương mại Vincom (số 72, đường Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, quận 1, TPHCM), tôi ồ lên khi thấy trên thành, nắp, quai, vòi của những chiếc ấm tử sa được khắc thư pháp chữ Việt, ấn, triện bằng tiếng Việt, danh lam thắng cảnh đất Việt. Tần ngần ngắm, tỉ tê hỏi, tôi hớn hở khám phá ra một dòng sản phẩm trà cụ được phả hồn Việt. Để ghi nhớ kỷ niệm tìm được giống trà Vân ở xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, tôi đặt một chiếc ấm độc ẩm có khắc phong cảnh một cây trà cô độc, nhỏ nhoi ngạo nghễ vươn lên trên đỉnh núi Vân mịt mờ mây phủ. Đưa tấm ảnh, nêu yêu cầu rồi tôi thảnh thơi ngồi thưởng trà. Hết tuần trà, vừa hay họa sĩ Xuân Huy xong bức ký họa bút sắt. “Thêm chút sương trời khí núi, thân, cành thêm gân guốc, lá to hơn để đúng chất của giống trà dại mọc hoang…”, kẻ nói, người phẩy tay bút, thêm một tuần trà nữa thì bức tranh hoàn thành. Tuần tới, nó sẽ theo chân anh Nguyễn Ngọc Tuấn, Giám đốc Công ty Cổ phần 7P, sang Nghi Hưng (thành phố Vô Tích, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) để rồi lại được các nghệ nhân lấy bút tre khắc lên thân chiếc ấm tử sa màu đỏ. Sáu tháng sau, tôi có thể ngồi ngắm trăng lan trên mặt sông Sài Gòn và khề khà pha trà Vân bằng chiếc ấm tử sa Nghi Hưng vẽ cảnh núi Vân, trà Vân của Quan Lạn… “Đồ uống trà không gì tuyệt diệu bằng ấm tử sa”, tâm đắc với nhận xét của nhà nho Lý Ngư, người đời Minh, Trung Quốc nên anh Tuấn bắt đầu bén duyên với ấm tử sa từ năm 2003. Đầu tiên, anh sang Nghi Hưng mua ấm mang về nhà trưng bày, thưởng trà. Rồi bạn bè, người thân đến chơi, thấy đẹp nên hỏi mua, nhờ đặt hàng giúp, thế là anh thành nghề, nên nghiệp. Dăm ba tháng một lần anh sang lò của các nghệ nhân tiêu biểu nơi đất Nghi Hưng như: Hứa Học Quân, Vương Phúc Tân, Vạn Mai Thanh, Triệu Lệ Quyên, Ngô Tường Đại, Trần Thuận Tiên… chọn ấm, chén, khay, bàn, tượng người, muông thú rồi mang về chia sẻ niềm vui với những người cùng sở thích ở Sài thành. Năm 2010, khi VincomCenter khai trương, anh thuê gian hàng để mở rộng kinh doanh. Đến nay, anh đã thêm ba gian hàng nữa tại Parkson Hùng Vương, Maximark Cộng Hòa và số 491 D3, đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh, TPHCM. Mỗi tháng, hệ thống cửa hàng của anh bán ước cả chục nghìn món trà cụ. Non nước Việt Nam có biết bao kỳ quan, tại sao không tôn vinh chúng trên trà cụ. Ý tưởng lóe lên, năm 2010, anh bắt đầu ký kiểu ấm. Anh cho biết: “Tôi mời nhà thư họa Giang Phong viết thư pháp Việt những chữ như: tâm, phúc, lễ, tâm bình thế giới bình, trà nghệ…; thuê người khắc triện Việt phú quý thổ; mời họa sĩ Xuân Huy ký họa bút sắt tranh phong cảnh Việt Nam: vịnh Hạ Long, chùa Một Cột, tháp Rùa… rồi mang sang Nghi Hưng cho nghệ nhân khắc vào thành, đóng vào trôn ấm. Tháng 11 năm 2011, tôi bắt đầu ra mắt dòng sản phẩm này”. Hiện nay, người đam mê sưu tầm có thể bỏ ra từ 8 đến 10 triệu đồng và chờ đợi từ 6 đến 9 tháng để có một chiếc ấm độc. “Nước Việt ta là cội nguồn xuất tích cây trà và uống trà trong dân gian cũng như trong cung đình đều thể hiện văn hóa ẩm thực độc đáo lâu đời của người Việt. Thú uống trà của các cụ từ xa xưa đã nâng tầm văn hóa Việt. Cũng uống trà, cũng dùng ấm đất tử sa Nghi Hưng nhưng không hề lẫn với văn hóa Trung Quốc. Để có được chén trà ngon, phải dùng cái ấm đất tốt – đó là sự lựa chọn thật tinh tế. Nhưng ta không chỉ biết dùng ấm đất tử sa tốt mà còn đặt những người thợ giỏi tại Nghi Hưng làm những cái ấm khắc thơ nôm, họa cảnh nước Việt. Đó là những chiếc ấm quý mang phong cách và hồn Việt”, anh Tuấn tâm đắc. Nhưng chuyện ký kiểu trà cụ cũng mang đến cho anh Tuấn nhiều chuyện cười ra nước mắt. Chả là người Việt thích ấm màu xanh nhất, đất màu xanh cũng hiếm nên giá ấm xanh luôn đắt. (Người Trung Quốc còn phân biệt hai màu xanh: xanh cuối Minh (xanh nước biển) và xanh Mao Trạch Đông (xanh lá cây pha chút vàng), T.G.). Khi có người đặt làm ấm hình quả đào bằng đất màu xanh, anh Tuấn sang Nghi Hưng yêu cầu thì nghệ nhân từ chối thẳng thừng vì họ bảo như thế là trái với tự nhiên, đào chỉ có thể màu hồng hoặc vàng. Lại có người đặt khắc họa tiết hoa văn lên phía thành ấm quay ra ngoài, họ cũng từ chối. Vì theo nguyên tắc, khi cầm chiếc ấm bằng tay phải song song với người, phần họa tiết, chữ… phải luôn quay về phía trong để ta có thể thưởng ngoạn khi pha trà… Thú chơi là vậy, phải tinh tế, hiểu biết mới nên sành! Nét văn hóa phương Đông Anh Nguyễn Ngọc Tuấn, sinh năm 1968, thuộc thế hệ “chè chén”, thời mà các quán nước trà ven đường mọc lên rất nhiều tại thành phố Hà Nội. Lớn lên anh đã thấy quán nước chè xanh của cụ ngoại mở từ năm 1958 tại số 25, phố Nguyễn Du, trước cửa Tổng cục Bưu điện. Nước chè xanh của cụ được múc bằng chiếc gáo dừa nhỏ từ vò sành được ủ kỹ trong lớp vải bố gai bên ngoài là thùng gỗ nâu sậm theo thời gian. Bát nước chè xanh luôn có màu vàng sóng sánh như mật ong rất hấp dẫn người đang lúc khát. Cho tới chén trà mạn năm xu thời bao cấp cũng được cụ chu đáo chuẩn bị, chăm chút từng khâu: tuyển trà, chọn nước, lựa bình pha và hãm trà sao cho thật ngon, thật đậm đà. Quán trà này là một thời hội tụ “chè chén” của cán bộ Tổng cục Bưu điện và bà con lối phố. Nó đã chứng kiến nhiều đổi thay của thời cuộc. Thế nhưng cách uống trà Tàu, uống trà thanh nhã theo kiểu Hà Nội xưa lại khác và anh chỉ được nghe kể lại khi uống trà trong gia đình. Rồi thú phong lưu của những nhân vật cụ Sáu, sư chùa Đồi Mai, cụ Ấm trong truyện ngắn Những chiếc ấm đất, Chén trà sương của nhà văn Nguyễn Tuân đã nhập vào anh. “Sớm được tiếp xúc với trà và cảm được cái thú uống trà nên tôi say mê luôn những chiếc ấm uống trà Tàu theo kiểu Hà Nội ngày xưa. Đó chính là ấm đất tử sa, là một bộ phận hợp thành văn hóa trà. Từ chỗ yêu thích, thêm một bước nữa là sưu tầm và trong quá trình sử dụng, tôi mới hiểu được thế nào là ấm đất tử sa chính hiệu, hiểu được một phần nào tính năng, thành phần cấu tạo của đất, độ hút nước, thông khí của chất đất, công dụng pha trà của ấm và cả kỹ thuật chế tác, phong cách trang trí, nghệ thuật của danh nhân, danh tác. Phong cách thưởng ngoạn ấm tử sa của tôi cũng hình thành dần. Thưởng ngoạn ấm tử sa vừa đơn giản mà vừa thâm thúy. Qua đó ta mới thấy được tài hoa của người thợ và nét đẹp tiềm ẩn của văn hóa phương Đông”, anh chia sẻ. Cũng giống anh Tuấn, anh Hoàng Anh Sướng, chủ hiên trà Trường Xuân ở số 13, phố Ngô Tất Tố, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, cũng lấy ấm tử sa Nghi Hưng về bày bán ở không gian trà Việt của mình từ 5 năm nay. Ở thủ đô cũng xuất hiện những gian trưng bày và bán trà cụ làm bằng đất tử sa như Trà Gia Việt trên phố Hàng Bông, Long Trà ở phố Hàng Buồm… Để phục vụ thú sưu tầm trà cụ tử sa của người Sài thành, ngoài bốn gian hàng với cả vạn món của anh Nguyễn Ngọc Tuấn, còn cả một con đường tử sa ở trung tâm thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Những hãng trà: Tâm Châu, Phúc Nguyên, Trâm Anh… đều bám mặt đường Trần Phú để mở những cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm. Họ cũng nhập trà cụ tử sa từ Trung Quốc về để phục vụ nhu cầu của những người yêu thích chủ yếu từ TPHCM lên “ăn hàng”. Theo khảo sát của chúng tôi, người Hà Nội uống trà nhiều hơn người TPHCM nhưng thị trường trà cụ tử sa ở Sài thành lại nhộn nhịp hơn hẳn. Ở TPHCM, những chiếc ấm có giá từ 5 đến 12 triệu đồng vẫn bán chạy. Có bộ ấm và bốn chiếc chén màu da chu vẽ rồng vờn mây, giá 30 triệu đồng, anh Nguyễn Ngọc Tuấn vừa nhập về đã có người hỏi. Nhưng ở Hà Nội, những loại có giá từ 400.000 đồng đến một, hai triệu đồng mới bán được. Anh Hoàng Đình, 36 tuổi, nhà ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, rất mê trà. Cứ nghe ở đâu có người bán trà ngon là anh lùng mua bằng được. Thế nhưng, bộ ấm, chén dùng để uống trà của anh lại chỉ là loại sứ bình thường. Với anh, trà ngon không nệ đồ pha. Nhưng với anh Đoàn Văn ở quận Gò Vấp, TPHCM, thì “không chỉ để pha, uống trà, ấm, chén tử sa còn là một dấu tích văn hóa đáng để sưu tầm, thưởng ngoạn”. Còn tôi, cứ loanh quanh với tủ trà cụ tử sa cũng hết ngày! Không thể làm giả Gần đây, có thông tin rằng vì nguyên liệu khan hiếm nên người ta đã làm giả ấm tử sa. Anh Nguyễn Ngọc Tuấn, người đi Nghi Hưng như đi chợ, bác bỏ. Anh cho biết: “Thành phố Nghi Hưng có con đường Tinh Sa, mỏ đất tử sa trắng ngay bên đường. Chính quyền cấm khai thác đất, họ dựng cổng chào, xây cơ sở hạ tầng để làm du lịch. Có lẽ vì thế nên nhiều người đồn thổi là người ta hết đất để khai thác chăng. Không thể pha trộn đất khác vào tử sa vì khi nung đến 1.200oC (nhiệt độ trung bình tôi luyện của trà cụ tử sa) thì nó sẽ vỡ ngay, không kết dính”. Tử sa là đá trong đá, khai mỏ đá ra, có phần đất trong đó. Người ta phải khai thác thủ công: lấy búa, rìu… phá đá để tìm đất lẫn trong đó chứ không được dùng thuốc nổ phá núi bởi như vậy, đất sẽ bị ám mùi thuốc nổ, ảnh hưởng đến chất lượng ấm sau này. Chỉ duy nhất ở Nghi Hưng mới có đất tử sa. “Giả” là chỉ làm lại các tác phẩm nổi tiếng của người xưa. Ví dụ ấm Cung Xuân do người đương thời làm vẫn gọi là ấm Cung Xuân nhưng không hề có chuyện lập lờ đánh lận con đen vì dưới đáy ấm có khoản là họ và tên hay nghệ danh của người làm. “Giả” họ dùng máy để đánh bóng, hóa chất để ngâm, tẩm… cho ấm cũ, bám dày cao trà để trưng bày cho đẹp. Loại ấm này chỉ dùng trưng bày, nếu mang pha trà thì có hại cho sức khỏe. Mỗi người thợ, nghệ nhân thường chuyên một dòng sản phẩm. Có người chuyên làm lại những chiếc ấm, chén của người xưa, người chuyên mô phỏng hình dáng của động, thực vật (ấm con cóc, rồng, quả bí, thân trúc, tùng…), người thì tìm tòi kiểu dáng hiện đại. Có chiếc ấm ngọa hổ tàng long (giữa lòng ấm có con rồng, trên nắp có con hổ), có chiếc ấm rồng, rót nước nhẹ thì đầu rồng từ trong vòi thò ra, rót mạnh thì lưỡi rồng từ miệng thè ra… Người thợ được cấp giấy chứng nhận nghệ nhân khi có bằng tốt nghiệp của Đại học Hoa Kinh và có giấy chứng nhận tác phẩm độc đáo. Tác giả: Đõ Quang Tuấn Hoàng Nguồn: http://vietnamandyou.net/……………………………………………………………………. Cách phân biệt ấm tử sa Nhìn – Nhìn bề ngoài: Thuần đất tử sa có năm màu, thường gọi là ngũ sắc thổ, đó là màu của các chất khoáng kim loại. Chúng không bóng loáng, không diễm lệ, chỉ có độ bóng sáng mờ. – Nhìn bên trong: Đất tử sa không thể quay như các loại đất khác, chỉ có thể nối lại với nhau, nên khi ta nhìn và dùng tay cảm nhận trong bụng ấm sẽ nhận ra một vết nối, thường nằm bên quai ấm. Trong bụng ấm còn có những chấm sáng như kim tuyến, đó là thạch anh có sẵn trong đất tử sa. Ngửi Ngửi phần trong bụng ấm. Ấm mới ra lò chỉ có mùi đất và hỏa khí. Không có bất cứ mùi nào khác. Nghe Hiện nay tình trạng làm giả ấm khá tinh vi, người ta có thể dùng nước làm kiếng trộn vào đất, sau khi thành phẩm, tiếng rất vang… nghe còn trong hơn ấm thật. Nên khi mua, đừng nên dùng nắp ấm gõ vào bụng ấm, dễ bị nhầm lẫn… Ta nên bật nắp ấm, sau đó dùng ống nắp ấm trượt nhẹ ba, bốn vòng quanh miệng ấm. Nếu là ấm tử sa thật, âm thanh đanh như sắt, giòn giã như ngọc như đá. Chà Nhìn bề ngoài, ấm có nổi hạt nhỏ như cát, hiện ra sự lồi lõm nhưng khi sờ vào thì mịn màng và trơn láng… Song Mộc
Posted in DRINKING | Leave a comment

Câu chuyện của một người 10 năm học nghề làm ấm Tử Sa

Câu chuyện của một người 10 năm học nghề làm ấm Tử Sa

 

Lâm Tịnh Tung sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn Bành Hồ (Đài Loan), từ nhỏ anh đã mê mẩn các tác phẩm nghệ thuật ấm trà Tử Sa. Khi nhận được số tiền lương đầu tiên trong đời, anh đã dùng hết để mua ấm trà. Hơn 10 năm trước, việc sưu tầm ấm đã không thể thỏa mãn niềm say mê, nên anh quyết tâm lặn lội sang Nghi Hưng bên Trung Quốc để học nghề làm ấm.
Lúc đó còn lạ nước lạ cái, lại thêm bất đồng ngôn ngữ, học tập vất vả hết 10 năm, cuối cùng anh đã làm bậc cao thủ Tử Sa là Lã Nghiêu Thần cảm động, nhận anh làm đệ tử. Thành nghề, chẳng những làm ra những chiếc ấm theo sở thích, mà Lâm Tịnh Tung còn liên tục 7 lần đoạt giải vàng tại các cuộc thi làm gốm, trở thành nghệ nhân Tử Sa đầu tiên của Đài Loan được đào tạo tay nghề tại Nghi Hưng.

Lâm Tịnh Tung học nghề tại Nghi Hưng 10 năm, coi ấm Tử Sa như là người vợ thứ 2 của mình.

Lâm Tịnh Tung năm nay 43 tuổi, bắt đầu từ năm 2000, chỉ trong vòng 5 năm anh đã liên tiếp 7 lần đoạt giải vàng tại các cuộc thi làm ấm Tử Sa của Trung Quốc, ngay cả các đơn vị tổ chức cũng kiêng mặt, họ cấp cho anh tư cách “miễn xem xét”, hy vọng anh không tham gia thi nữa.
Nhưng thành tích không phải dễ dàng mà có được, Lâm Tịnh Tung phải tốn mất 10 năm thời trai trẻ chạy ngược xuôi giữa Đài Bắc và Nghi Hưng để theo học nghề làm ấm, hy sinh cả quá trình trưởng thành của hai đứa con mới đổi được thành tích đó. Theo lời anh kể, muốn đến Nghi Hưng học nghề thì dù có tiền cũng chưa chắc được, bởi vì người Trung Quốc có ấn tượng không tốt với người Đài Loan, cho rằng đàn ông Đài Loan chỉ thích uống rượu, thích phụ nữ, anh từng bị mọi người chê cười sẽ không chịu nổi 3 tuần ở Nghi Hưng.
Đất vàng, nhà gạch, không khí đầy bụi bặm và ẩm ướt, đó chính là ấn tượng đầu tiên khi anh đặt chân đến Nghi Hưng vào năm 1991. Tuy rằng lúc đó ấm Tử sa đã rất có tiếng trên thị trường, nhưng Nghi Hưng hầu như vẫn còn là một nơi nguyên sơ, nhà vệ sinh của thợ chỉ là một con mương, che chắn tạm và không có cửa, điện đóm thì ít và chỉ cháy leo lét, những nghệ nhân trong xưởng đều dựa người bên cửa sổ để làm việc, mới chiều tối đã phải nghỉ làm.


Tại một buổi tiệc, danh thủ Tử Sa của Nghi Hưng là Lã Nghiêu Thần đã quyết định nhận Lâm Tịnh Tung làm đệ tử.

Ngoài hoàn cảnh khắc nghiệt thì việc những nghệ nhân thủ công  địa phương không thích người ngoài, bất đồng ngôn ngữ… cũng là rào cản khá lớn. Lâm Tịnh Tung cho biết, những nghệ nhân này từ nhỏ đã vào xưởng học chế tạo ấm, mỗi ngày cặm cụi từ sáng đến tối mịt, làm sai còn bị phạt không được ăn cơm, bỗng dưng ở đâu xuất hiện một người Đài Loan, tuổi tác cũng không còn nhỏ nữa, vốn dĩ là một việc mà không ai buồn để ý đến.
Không ngó ngàng cũng còn đỡ, có lúc họ còn dùng tiếng địa phương để chế diễu anh, Lâm Tịnh Tung nghe không hiểu gì hết, chỉ biết cười theo một cách khổ sở. Nhưng anh vẫn lặng lẽ đứng sau lưng các nghệ nhân kiên nhẫn học nghề. Anh biết mình đang bị cười nhạo, nhưng dù sao thì cũng không hiểu, nên coi như mình không biết.

Đứng học nghề suốt 3 tháng
Sau 3 tháng đứng sau lưng các nghệ nhân để học nghề, chịu bao lời xúc xiểm, cuối cùng đã có người mở miệng hỏi anh: “Nhìn hiểu không?” Lâm Tịnh Tung mãi mãi ghi nhớ câu hỏi đó. Bởi vì từ giây phút đó trở đi, những nghệ nhân trong xưởng đã chịu dạy nghề cho anh, có người còn cho anh mượn một góc bàn với đủ đồ dụng cụ nữa.


Năm xưa, hoàn cảnh làm việc tại công xưởng Nghi Hưng rất khắc nghiệt, các nghệ nhân cược Lâm Tịnh Tung sẽ không chịu nổi 3 tuần.

Lúc đó có một sư phụ còn nói người Đài Loan đến chỉ để vung tiền, mua một cái ấm chỉ tốn có 1 giờ, nhưng uống rượu thì tốn cả đêm. Người Đài Loan đầu tiên đến Nghi Hưng học làm ấm, không ngờ đã chịu đựng được 3 tháng, họ ví von anh như một hồn ma vất vưởng không chịu đầu thai vậy, muốn không dạy cũng khó có cớ chối từ.
“Muốn đến Nghi Hưng học nghề không phải cứ có tiền là được, bởi vì những nghệ nhân làm việc ở đây đều có đồng lương cố định, việc nhận đệ tử đối với họ không có ích lợi gì. Mọi người trong xưởng thực sự rất khó tính, nhưng một khi đã hòa hợp được thì cho dù dạy miễn phí họ cũng chấp nhận”.
Lâm Tịnh Tung cho biết, anh và nghệ nhân cấp quốc gia Lã Nghiêu Thần rất hợp nhau về quan điểm sáng tác, trong một buổi tiệc liên hoan của xưởng ông đã vui vẻ tuyên bố nhận anh làm đệ tử, là người học trò ngoại địa đầu tiên của ông. Cả quá trình diễn ra rất nhanh, cho thấy tính phóng khoáng, không câu nệ tiểu tiết của một nghệ nhân lão làng.


Hiện nay, Lâm Tịnh Tung mở một phòng làm việc tại Nghi Hưng và nhận dạy học trò, coi như là cách trả ơn các nghệ nhân đã dạy mình trước kia.

Lã Nghiêu Thần là một đại sư mỹ thuật công nghệ cấp quốc gia, tác phẩm ấm trà “Tiểu Thạch Lãnh Tuyền” của ông được bán ra với giá 600 ngàn NDT tại buổi đấu giá do Hội nghị Công thương thế giới tổ chức tại Bắc Kinh.
Nghệ nhân cấp quốc gia giống như là quốc bảo vậy, đệ tử trừ phi là con ruột nếu không số lượng chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Có câu “Gia học bất ngoại truyền” do đó cho dù quen biết nghệ nhân Lã Nghiêu Thần đã lâu, nhưng Lâm Tịnh Tung chưa từng dám mơ tưởng được bái ông làm thầy. Cho nên lúc Lã Nghiêu Thần tuyên bố anh là “đệ tử ngoại địa đầu tiên”, anh mừng đến nỗi tưởng mình đang nằm mơ.
Thời gian 10 năm, Lâm Tịnh Tung đã học hết quy trình làm ấm trong xưởng Tử Sa và những kỹ năng của các nghệ nhân, ngay cả ngôn ngữ địa phương anh cũng thông hiểu và nói chuyện trôi chảy. Để chứng minh những gì mình đã học, từ năm 2000 anh ghi danh tham gia cuộc thi Thủ công nghệ Trung Quốc, lần dự đầu tiên chỉ được giải đồng, nhưng trong vòng 5 năm sau đó, Lâm Tịnh Tung liên tục giành được 11 giải thưởng, trong đó có 7 giải vàng.

Mê ấm Tử sa như mê…vợ bé
Người Đài Loan đoạt giải thưởng Tử Sa cao nhất tại Trung Quốc, việc này trước giờ chưa từng xảy ra, cho đến nay vẫn chưa có người phá kỷ lục đó. Lâm Tịnh Tung cho biết, trong số những tác phẩm được trao giải vàng, chiếc ấm “Xuân hoa tư vận” đã từng tham gia cuộc thi Tử Sa do Đài Loan tổ chức, nhưng bị loại từ vòng ngoài, không ngờ khi sang Trung Quốc lại đoạt giải vàng, giá trị của tác phẩm cũng nâng lên gấp trăm lần. Giờ đây có người trả giá 200 ngàn Đài tệ, nhưng anh không nỡ bán.


Phải chạy ngược chạy xuôi đến Trung Quốc học nghề, nhưng bà xã anh vẫn âm thầm ở bên cạnh ủng hộ chồng.

Lâm Tịnh Tung nói, nghệ thuật làm ấm Tử Sa của các nghệ nhân Đài Loan quá chú trọng khâu nặn và tạo hình, nên đa số ấm đều có dạng tròn, cộng thêm nguyên liệu pha màu nên thiếu đi sự sáng tạo và kỹ xảo. Màu sắc quá nhiều sẽ làm mất dụng ý của người sáng tác, giống như một cô gái trang điểm thật đậm, tô son trét phấn thật dày, trông rất diêm dúa. Theo anh thì tạo hình ấm Tử Sa đòi hỏi nhiều biến hoá, giống như những người đẹp cổ điển, ngắm đi ngắm lại mãi không chán.
Vì học làm gốm mà Lâm Tịnh Tung đã trở thành “người bay” bất đắc dĩ, mỗi 3 tháng khi visa hết hạn anh lại bay về Đài Loan, ở nhà khoảng một tháng rồi bay trở lại Nghi Hưng. Anh đã bỏ lỡ quá trình trưởng thành của hai đứa con, cũng may nhờ được bà xã một lòng thông cảm ủng hộ, mới không dẫn đến đổ vỡ hôn nhân:
“Chồng người ta đến Trung Quốc có vợ bé, chồng tôi cũng có, nhưng khác ở chỗ vợ bé của anh ấy là mấy cái ấm trà”. Chị Ngô Mỹ – bà xã của anh nhớ lại khoảng thời gian anh học làm ấm giống như là đôi tình nhân trẻ yêu nhau vậy, ăn không ngon ngủ không yên, người thì ở Đài Loan nhưng hồn vẫn còn ở Nghi Hưng.
“Mỗi khi thưởng thức ấm trà, anh ấy có thể không nói chuyện hàng giờ liền, chỉ ngắm nhìn, vuốt ve nhẹ nhàng, làm cho những người thân trong nhà phát ghen tỵ. Hai đứa bé khóc anh hầu như không nghe, nhưng khi bé muốn đụng vào ấm trà, dù chưa chạm vào thì anh đã lớn tiếng ngăn cấm”.
Từ lúc còn nhỏ hai đứa bé đã thiếu sự gần gũi của cha, lớn hơn một chút thì lại bị mắng vì những cái ấm trà, cuối cùng đã than oán: “Ba yêu ấm trà hơn, ba không yêu tụi con”. Chị Ngô Mỹ bảo nghe tụi nhỏ nói vậy mà đau lòng, nhưng làm ấm Tử Sa là thú vui duy nhất của anh ấy, biết làm sao?
Đối với sự nhẫn nhịn của vợ con, Lâm Tịnh Tung tuy không giải thích bằng lời, nhưng qua đôi mắt đỏ hoe đã tiết lộ sự biết ơn chân thành tận đáy lòng anh.
Lâm Tịnh Tung còn nói, trong lòng anh ấm Tử Sa giống như là một mỹ nữ vậy, còn thú chơi ấm giống như là nuôi “vợ bé”, thích ấm nào thì pha trà bằng ấm đó, chán rồi thì bán đi, chỉ khác vợ bé ở chỗ là nó không biết la lối mà thôi.
Lâm Tịnh Tung còn nhớ lúc nhỏ, mỗi buổi chiều ông nội anh thường ngồi ở khu vườn trong tam hợp viện, vừa nhịp chân vừa từ tốn pha trà. Ấm Tử Sa thời đó phải nhập lậu từ Thượng Hải, ông nội lau chùi chiếc ấm rất cẩn thận, không cho phép trẻ con chạm vào, bọn trẻ chỉ có thể đứng xa nhìn mà thôi. Được tận tay cầm chiếc ấm để pha trà đã trở thành ước mơ từ nhỏ trong anh, sau khi ra đời làm việc cho một công ty quảng cáo, tiền lương tháng đầu tiên 20 ngàn Đài tệ lãnh được, anh mang hết ra tiệm mua ấm trà.
Thời trung học, Lâm Tịnh Tung học về điện tử, nhưng ý nghĩ làm ấm Tử Sa luôn ấp ủ trong lòng, ban đầu định học nghề tại Đài Loan, nhưng những nghệ nhân Tử Sa Đài Loan có nhiều quy tắc lại hay giấu nghề, nên cuối cùng anh quyết tâm khăn gói đi Nghi Hưng.
Lâm Tịnh Tung chia sẻ, lúc đó trong túi xách ngoài mấy bộ quần áo ra thì chỉ tràn đầy lòng quyết tâm mà thôi. Thời gian 10 năm học nghề rất dài, nhưng những gì anh thu hoạch cũng nhiều. Giờ đây anh đã mở xưởng làm ấm Tử Sa tại Nghi Hưng, cổ vũ giới học sinh, sinh viên Đài Loan đến theo học, chỉ với điều kiện duy nhất: là không sợ khổ, sợ khó.


Lâm Tịnh Tung là nghệ nhân Đài Loan duy nhất đoạt giải Vàng tại các cuộc thi Tử Sa ở Trung Quốc.

Giải thưởng:
– Giải đồng – Triển lãm tác phẩm mỹ thuật công nghệ Trung Quốc lần 2.
– Giải bạc – Hội chợ triển lãm tác phẩm mỹ thuật công nghệ TQ.
– Giải vàng – Triển lãm tác phẩm thủ công nhân gian quốc tế Hàng Châu lần 1 và 2.
– Giải vàng – Triển lãm tác phẩm mỹ thuật công nghệ TQ lần 3.
– Giải vàng – Lễ hội văn hoá Bích Loa Xuân đầu tiên và Hội chợ triển lãm danh trà TQ.
– Giải vàng – Triển lãm tác phẩm nghệ thuật Tử sa Nghi Hưng .
– Giải vàng – Triển lãm tác phẩm mỹ thuật công nghệ TQ lần thứ 4 đến thứ 6.

(Theo CTW)

http://thutra.com/index.php/tangthu/baiviet/153-cau-chuyen-10-nam-hoc-nghe-lam-am-tu-sa

Posted in DRINKING | Leave a comment

Nguồn nguyên liệu khan hiếm, ấm tốt khó tìm. Giá ấm Tử Sa bị đẩy lên cả trăm lần

Nguồn nguyên liệu khan hiếm, ấm tốt khó tìm. Giá ấm Tử Sa bị đẩy lên cả trăm lần

 

Tại Trung Quốc hiện nay, thị trường cổ phiếu và bất động sản rơi vào cảnh chợ chiều ảm đạm khó có cơ hội phục hồi nhanh, các nhà đầu tư liền chuyển hướng sang một thị trường mới mẻ khác, đó là kinh doanh ấm Tử Sa.

Chiếc ấm Tử Sa giản dị vốn chỉ dành cho những ai đam mê thưởng trà, nay đã trở thành một mặt hàng để đầu cơ, hiện giá một chiếc ấm có thể bị đẩy lên gấp trăm lần, dao động ở mức hàng triệu Nhân dân tệ, thậm chí là chục triệu. Vậy mà giá cả đắt đỏ của nó không làm chùn tay các nhà đầu tư, mà ngày còn có nhiều người gia nhập đội ngũ đầu cơ, mua bán ấm Tử Sa kiếm lời.
Thế nhưng các chuyên gia cổ vật đã cảnh báo, đợt bong bóng ấm Tử Sa có thể ngày càng được thổi phồng lên và bùng nổ bất cứ lúc nào, hậu quả bi thảm ra sao, có thể nhìn lại vết xe đổ của cơn sốt đầu cơ trà Phổ Nhĩ cách đây không lâu. Với những chiếc ấm thuộc hàng đồ cổ thì có hằng hà sa số đồ giả mạo, người mua khó mà phân biệt thật giả. Không ít nhà đầu tư đã mất cả chì lẫn chài chỉ vì mua phải món hàng nhái.

Vào ngày 16.5 vừa qua, tại đài tưởng niệm Thế Kỷ Trung Hoa ở Bắc Kinh đã diễn ra một cuộc triển lãm các tuyệt tác Tử Sa thu hút lượng người đến xem đông đảo chưa từng có. Khách tham quan bận rộn chụp ảnh, ghi chép, làm đủ mọi động tác chuẩn bị cho buổi bán đấu giá sắp được tổ chức. Một vị khách họ Dương đến từ Thâm Quyến cho biết, ông đã chấm một chiếc ấm nổi tiếng và sẽ chấp nhận bỏ ra ba triệu HK$ để mua trong cuộc đấu giá.


Chiếc ấm “Đại Thạch Biều” của nghệ nhân Cố Cảnh Chu giá bán 3,2 triệu HK$ năm 2008, sau nhiều lần sang tay  năm 2010 đã bán được 13 triệu HK$.

Vào mười năm trước, ông Dương nói trên mua được chiếc ấm Tử Sa cũ tại một sạp hàng bên lề đường ở Thâm Quyến với giá 200HK$ (khoảng 537.000 VNĐ). Ba năm trước, một người bạn của ông đưa ra giá 20.000HK$ để mua lại, nhưng ông không bán. Từ đó ông mới biết, thì ra ấm Tử Sa cũng có thể trở thành một món hàng đầu tư có giá trị. Qua giám định, được biết chiếc ấm này có nguồn gốc từ đời nhà Thanh, hiện có người kêu giá 200.000HK$ (khoảng 537 triệu VNĐ) nhưng ông vẫn chưa có ý định sang tay. Trông thấy giá trị của những chiếc ấm ngày càng tăng cao, ông quyết định từ bỏ công việc của một giám đốc để chuyển sang sưu tầm và mua bán ấm Tử Sa. Tên tuổi của ông vang xa khắp thành phố Thâm Quyến, tài sản hiện tại mà ông đang sở hữu lên đến hàng chục triệu HK$.


Ấm “Thạch Biều” của nghệ nhân Cố Cảnh Chu

Ấm Tử Sa là sản phẩm gốm độc đáo của Trung Quốc, được làm bằng loại đất Tử Sa chỉ có xuất xứ từ thành phố Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô, nên còn có tên là ấm Tử Sa Nghi Hưng. Bắt đầu từ những năm vua Chính Đức đời Minh, Nghi Hưng đã trở thành nơi chế tạo ấm Tử Sa với người khởi xướng là Cung Xuân và các tăng lữ chùa Kim Sa. Trong quá khứ, ấm Tử Sa chủ yếu được sử dụng như vật phẩm giao lưu giữa các văn nghệ sĩ và là một trong những cống phẩm của triều đình.
Bởi vì tính độc đáo của nguyên liệu chế tạo, ấm Tử Sa có tính năng thoáng khí nhưng không thoát nước, hương thơm và mùi vị của nước trà được giữ lại nguyên vẹn. Nếu sử dụng trong mùa hè, dù để cách nhật nước trà cũng không bị thiu hôi; còn mùa đông thì dù cho đổ nước sôi vào ấm cũng không bị biến dạng do nhiệt độ thay đổi; cộng thêm tạo hình đầy tính nghệ thuật nên những năm gần đây ấm Tử Sa trở thành vật phẩm được nhiều nhà sưu tầm và công chúng yêu thích.  Năm 2006,  kỹ thuật chế tạo ấm Tử Sa truyền thống tại Nghi Hưng đã được liệt vào di sản văn hóa phi vật chất của Trung Quốc.

Chiếc ấm giá 18 triệu HK$
Chuyên gia ấm Tử Sa Từ An Bích ở Hong Kong cho biết, trào lưu mua bán ấm Tử Sa bắt nguồn từ buổi bán đấu giá mùa thu năm 1994 của công ty đấu giá Gia Đức. Trong bốn chiếc ấm Tử Sa được chào bán trong cuộc đấu giá đó, hai trong số được mua với giá 41.000HK$. Nhưng đến mùa thu năm 2011, chỉ với hai buổi bán đấu giá các sản phẩm Tử Sa, công ty Gia Đức đã thu về hơn 70 triệu HK$. Tháng 12 năm ngoái, công ty Bảo Lợi ở Bắc Kinh đã chào bán một bộ ấm Đề Bích của nghệ nhân Cố Cảnh Chu (1915-1996) và giao dịch kết thúc với mức giá 18 triệu HK$ (khoảng 48,33 tỷ VNĐ), lập kỷ lục giá bán ấm Tử Sa cao nhất trong lịch sử thế giới.
Chuyên gia Từ An Bích cho rằng, giá trị của ấm Tử Sa có liên quan đến chất liệu đất Tử Sa làm nên ấm, nếu là ấm Tử Sa đúng tiêu chuẩn thì trong nguyên liệu làm ấm sẽ không có bất cứ vật chất nào khác. Đất Tử Sa là nguồn khoáng sản đặc biệt chỉ có ở núi Huỳnh Long, trấn Đinh Thục, huyện Nghi Hưng. Đây là một loại đá nham thạch độc đáo, sau khi khai thác phải trải qua nhiều năm bị nắng gió bào mòn rồi mới được đập giã nhuyễn thành đất Tử Sa. Do tình hình khai thác tràn lan nên tài nguyên đất Tử Sa ngày nay hầu như đã cạn kiệt.
Năm 2005, chính quyền thành phố Nghi Hưng đã ban hành lệnh cấm khai thác khoáng sản Tử Sa, dẫn đến giá nguồn nguyên liệu này không ngừng tăng cao. Hiện tại mỗi kg đất Tử Sa đúng chất lượng có giá hơn 20.000HK$, thế nên mới xuất hiện câu nói: “Đất Tử Sa có giá trị ngang với giá vàng”.


Ấm “Đề Bích”

Dù vậy, ở các tỉnh thành Trung Quốc ấm Tử Sa được bày bán trên thị trường vô cùng đa dạng, ngoài các tác phẩm được chế tạo từ nguồn nguyên liệu Tử Sa tích trữ từ trước, phần lớn các ấm Tử Sa còn lại đều là sản phẩm được sản xuất theo kiểu “công nghiệp hóa”. Thế nên giá cả cũng đủ cấp bậc, từ vài trăm cho đến vài ngàn đồng. Chuyên gia Từ An Bích giải thích: “Ngày nay, các loại ấm Tử Sa được chế tác thủ công từ nguồn nguyên liệu Tử Sa thật đã trở nên vô cùng hiếm, đến ngay nơi xuất xứ là Nghi Hưng thì có bỏ ra 5.000HK$ cũng chưa thể mua được một chiếc ấm chính thống, phải trên dưới 10.000HK$ mới có thể giao dịch thành công”.
Hiện tượng ấm Tử Sa công nghiệp được bày bán tràn lan là hệ quả của tình trạng kiệt quệ nguồn tài nguyên đất Tử Sa, vì vậy mà vô số xưởng nung gốm đã sử dụng đất sét bình thường, thêm vào các nguyên liệu hóa học để sản xuất ra loại đất Tử Sa giả mạo.
Từng có phóng viên đài truyền hình mua một lúc 50 chiếc ấm để đưa đi kiểm nghiệm. Kết quả cho thấy, chỉ có hai trong số chúng được làm từ đất Tử Sa nguyên chất, còn lại đều là ấm công nghiệp, trong chất liệu làm ấm có chứa bari, mangan, coban, crom; nếu sử dụng ấm này để uống trà trong thời gian dài có thể gây hại cho sức khỏe.
Ngành nghề ấm Tử Sa trở nên mất kiểm soát như hiện nay là hệ quả tất yếu của việc không đặt ra tiêu chuẩn ngành nghề, cũng như thiếu công tác kiểm định. Hiện loại ấm Tử Sa được bày bán rộng rãi nhất không phải là những chiếc ấm được cất giữ nhiều năm, mà là các tác phẩm mới. Bởi vì những chiếc ấm cổ khó mà xác định thật giả, nên người đầu tư thích mua bán những chiếc ấm được chế tác trong thời đại mới, giá cả cũng lên xuống nhanh hơn.
Trương Tiểu Long, bí thư Hiệp hội ấm Tử Sa Quảng Đông là người Nghi Hưng, làm công việc kinh doanh ấm Tử Sa và trà tại Quảng Chu. Ông tiết lộ, hầu hết khách hàng đến Phương Thôn, Quảng Chu mua ấm trà đều chi tiền rất thoải mái; mỗi khi bán được một hai chiếc ấm là ông bỏ túi khoảng 30.000 – 40.000HK$. Những khách hàng này không phải là người sưu tầm yêu thích ấm trà, mà là những người chạy theo trào lưu với mục đích mua đi bán lại kiếm lời.

Giá thị trường tăng 15 lần trong ba năm
Cuộc sống người dân Trung Quốc đã khá lên, thị trường cổ phiếu, bất động sản đang ảm đạm nên họ quay sang đầu tư vào thị trường ấm Tử Sa và cơn sốt này đang nóng lên từng ngày. Ông Trương Tiểu Long cho biết, gần ba năm trở lại đây, giá cả ấm Tử Sa đã tăng lên khoảng 15 lần, các tác phẩm phổ thông được các nghệ nhân đương đại chế tác đã tăng giá cả trăm lần chỉ trong một đêm, còn tác phẩm của các nghệ nhân nổi tiếng thời xưa thì dù có tận mắt nhìn thấy cũng đừng mơ đến việc được sở hữu chúng.
5 năm trước, một chiếc ấm Tử Sa quý giá nhất cũng có giá không quá một triệu HK$. Năm 2008, chiếc ấm Đại Thạch Biều của nghệ nhân Cố Cảnh Chu cũng chỉ bán được 3,2 triệu HK$ (khoảng 8,59 tỷ VNĐ), đó đã là cái giá trên mây xanh vào thời điểm đó. Đến năm 2010, cũng chính chiếc ấm này, sau khi được sang tay và mang ra đấu giá đã lập kỷ lục mới là 13 triệu HK$ (khoảng 34,90 tỷ VNĐ). Đây là điều khó tưởng tượng nổi, nhưng không loại trừ khả năng có sự nhúng tay của các con buôn đầu cơ.
Cố Cảnh Chu là một nghệ nhân chế tác ấm Tử Sa đương đại. Từ sau khi ông qua đời vào năm 1996, giá cả các tác phẩm của nghệ nhân họ Cố không ngừng tăng theo cấp số nhân. Gần đây nhất, một doanh nhân ở Ôn Châu đã mua được chiếc ấm của Cố Cảnh Chu với giá 300.000HK$, sau đó đã bán lại kiếm lời bộn tiền. Chính sự việc này đã thôi thúc không ít nhà đầu tư sẵn sàng chi món tiền khổng lồ để mua ấm Tử Sa.


Nghệ nhân Cố Cảnh Chu (1915-1996)

Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, ấm Thạch Biều do Cố Cảnh Chu chế tác chỉ có giá khoảng 380HK$; mười năm sau, con số này được nâng lên thành 100.000HK$; bây giờ thì khác rồi, một chiếc ấm của vị đại sư Tử Sa quá cố này ít nhất có giá hai triệu HK$. Rất nhiều người hối hận năm xưa không có nhãn quan, nếu không thì bây giờ chỉ cần có ấm của Cố Cảnh Chu trong tay là giàu to rồi.
Bên cạnh đó cũng có không ít người lo lắng cơn sốt ấm Tử Sa hiện tại sẽ đi theo vết xe đổ của trà Phổ Nhĩ năm nào. Những năm gần đây, chỉ cần là lĩnh vực có thể đầu tư thì người dân Trung Quốc đều đã thử qua hết. Và ấm Tử Sa chính là lĩnh vực vô cùng mới mẻ đối với các nhà đầu tư. Chính vì thế mà nó tồn tại không ít rủi ro, mọi người nên thận trọng thì hơn.


Một phiên đấu giá ấm Tử sa tại Thượng Hải năm 2011

Ấm thường biến thành ấm cổ bằng xi đánh giày
Ấm Tử Sa đột nhiên có giá, giá trị của những chiếc ấm cổ được lưu truyền từ xa xưa thì càng nhảy vọt hơn, chính vì vậy mà trên thị trường ấm Tử Sa xuất hiện nhiều chiếc ấm giả cổ. Toàn bộ những chiếc ấm này đều có dấu lạc khoản hoặc ấn triện của người xưa, ngay cả các chuyên gia cũng khó mà phân biệt.
Năm ngoái, một công ty đấu giá tại Nam Kinh đã chào bán một chiếc ấm Tử Sa từ đời vua Càn Long nhà Thanh với giá 2 triệu HK$. Kết quả giám định chiếc ấm này là đồ giả. Các chuyên gia nhắc nhở, đối với những chiếc ấm cổ, có hai cách làm giả: Một là làm cho bề mặt ấm trở nên cũ kỹ bằng cách dùng xi đánh giày hàng ngày đánh lên, tạo cảm giác ấm thường được sờ mó bằng tay mà bóng lên khi sử dụng; hoặc dùng acid cho ăn mòn bề mặt. Hai là quét một lớp xi măng trắng lên da ấm rồi ngâm nước lâu ngày, để tạo hiệu ứng như được khai quật từ lòng đất. Chuyên gia Tử Sa cảnh báo, trong số những chiếc ấm được gọi là đồ cổ đang bày bán trên thị trường, 99% là đồ giả.

 

http://thutra.com/index.php/tangthu/baiviet/152-nguon-nguyen-lieu-khang-hiem

Posted in DRINKING | Leave a comment

Trào lưu làm giả ấm Tử Sa những năm đầu thế kỳ 20

 

Trào lưu làm giả ấm Tử Sa những năm đầu thế kỳ 20
Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến, thời đại mới manh nha và cũng là thời kỳ đặc biệt của ngành làm ấm trà Tử Sa. Vào những năm Dân quốc đầu tiên ở Trung Quốc, rộ lên phong trào sưu tập đồ sứ cổ, người từ bốn phương tranh nhau mua vét, thủ giữ làm của riêng, đặc biệt là những ấm trà Tử Sa do các nghệ nhân tên tuổi ở vào hai triều Minh – Thanh chế tác. Nguồn hàng từ giới buôn bán cổ ngoạn ngày càng hiếm hoi, phát sinh việc làm giả ấm Tử Sa tràn lan đến không còn kiểm chứng nổi. 

 

P12-13-457-2

Ấm của Thời Đại Bân, đời Minh

Tại các thành phố mà ngành thương nghiệp phát triển mạnh lúc bấy giờ như Thượng Hải, Hàng Châu và Thiên Tân, xuất hiện rất nhiều cửa hàng kinh doanh ấm Tử Sa, họ lùng kiếm thuê mướn các nghệ nhân tay nghề xuất sắc của Nghi Hưng chế tạo, sản xuất ấm Tử Sa chất lượng cao cho thương hiệu của mình. Những sản phẩm này làm ra để bán cho những người sành uống trà, vì lúc đó việc giao thương rộng mở, phổ biến nhiều loại trà ngon nổi tiếng và đắt tiền. Chính vào thời điểm này, loại ấm Zhuni dáng nhỏ rất được ưa chuộng, vì hương trà không bị phân tán, mùi vị đậm đặc, lại ít hao trà.

Thượng Hải là nơi quy tụ ngành thương nghiệp và các xí nghiệp tư bản thời kỳ đầu ở Trung Quốc, cũng là nơi hội tụ giới chính trị, doanh nhân và văn nghệ sĩ – những người chẳng những sành uống trà, mà còn đề cao việc uống trà như một nghệ thuật. Những nhà buôn Tử Sa phát hiện ra rằng, làm nhái kiểu ấm của các nghệ nhân tên tuổi thời trước sẽ thu nguồn lợi lớn hơn rất nhiều, và Thượng Hải phồn hoa chính là mảnh đất màu mỡ cho thị trường ấm giả cổ, từ hoạt động nhỏ lẻ dần trở nên qui mô vào những năm 1920-1930.

 

P12-13-457-3

Ấm của Từ Hữu Tuyền (Minh)

Hiện nay, loại ấm Tử Sa giả cổ này có thể bắt gặp tại nhiều nơi ở Trung Quốc, một số được các nhà sưu tập bí mật cất giữ, một số khác thậm chí được xem như tác phẩm thật trưng bày trong các nhà bảo tàng, giám định sự thật giả của chúng là một việc vô cùng khó khăn. Một tiết lộ từ trong giới cho biết, hầu hết các nghệ nhân Tử Sa hàng đầu của Nghi Hưng đều có tham gia làm ấm giả cổ tại Thượng Hải và nhiều thành phố khác. Các nghệ nhân này vì sinh kế mà mô phỏng tác phẩm đời trước, nhưng họ không phải là người được lợi nhất, thu nhập chỉ dựa vào lương tháng cố định, thậm chí họ cũng không biết giá bán sản phẩm do mình làm ra. Xét về chuyên môn, họ chỉ được cái lợi là cơ hội thử thách tay nghề, được tiếp cận học hỏi những tác phẩm ưu tú của thời xưa. Nghệ nhân Cố Cảnh Chu (1915-1996) là bậc Đại sư Tử sa ở Nghi Hưng, mặc dù không muốn nhắc lại chuyện cũ, nhưng ông thừa nhận việc mô phỏng, làm giả tác phẩm của Trần Minh Viễn và Thiệu Đại Hanh đã giúp tay nghề, kỹ thuật tạo ấm của mình được nâng cao rất nhiều.

P12-13-457-4

Ấm của Huệ Mạnh Thần (đời Minh)

P12-13-457-5

 

Ấm Hụê Mạnh Thần (đời Thanh – Hụê Mạnh Thần sống qua hai triều đại Minh, Thanh)

Ngoài Cố Cảnh Chu, đội ngũ những  người tham gia làm ấm giả cổ là cả một danh sách dài, gồm những tên tuổi lớn của Nghi Hưng, trong đó đặc biệt nổi cộm gia đình của nghệ nhân Tưởng Dung (1919-2008) từng ba đời làm ấm giả cổ: Ông nội của bà Tưởng Dung là Tưởng Tường Nguyên (1868-1941) từng làm ấm giả cổ của Trần Minh Viễn đời Thanh, theo đặt hàng của khách mà không có nguyên mẫu, ông đã tự mình thiết kế các kiểu ấm “Tứ Phương Kiều Đỉnh”, “Lục Phương Xuyết Cầu” và “Tứ Phương Nga Đản Hồ” rồi khắc dấu lạc khoản bằng hai chữ triện “Minh Viễn”. Tới đời con ông là Tưởng Ngạn Đình (1894-1943) còn đi xa hơn cha mình, khi nhận làm ấm giả cổ ký lạc khoản Thời Đại Bân, Từ Hữu Tuyền (đời Minh), Trần Minh Viễn (Thanh) cho hai nhà kinh doanh cổ ngoạn Thang Lâm Trạch và Lang Ngọc Thư (Lang Thị Nghệ Uyển) ở Thượng Hải. Nữ nghệ nhân Tưởng Dung kêu Tưởng Ngạn Đình bằng bác, năm 1940 vì kinh tế khó khăn, bà theo người bác đến Thượng Hải làm ấm Tử Sa giả cổ, sở trường các loại “Ấm Hoa”, các loại dụng cụ văn phòng tứ bảo mô phỏng hình dáng động thực vật và chỉ đóng dấu triện giả “Trần Minh Viễn”.

 

P12-13-457-1

Ấm Trần Minh Viễn (đời Thanh)

Các nghệ nhân Bùi Thạch Dân (1892-1979), Vương Dần Xuân (1897-1977), Trần Quang Minh, Diệp Đắc Hỷ, Giang Án Khanh… của Nghi Hưng đều có dự phần làm ấm Tử Sa giả cổ tại Thượng Hải những năm đầu thế kỷ 20.

Các chuyên gia Tử Sa khẳng định, ấm Tử Sa là loại vật dụng sử dụng hàng ngày, dễ vỡ, vì vậy trải qua thời gian, chiến tranh, nạn chảy máu cổ vật… tác phẩm thật của người xưa không còn nhiều, những chiếc ấm được cho là làm ra từ khoảng giữa đời Thanh trở về trước mà chúng ta nhìn thấy hiện nay, đều là sản phẩm của thời kỳ đặc biệt này.

Trên đây chỉ mới nói một phần của góc khuất việc làm giả ấm Tử Sa phục vụ giới sưu tầm cổ ngoạn, những tay chơi có máu mặt, trong khi thị trường buôn bán ấm Tử Sa trong dân gian thì không biết đường đâu mà lần.

Riêng tại thị trường Việt Nam, việc buôn bán đồ sứ và ấm Tử Sa giả cổ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cũng không kém phần náo nhiệt, hấp dẫn nhiều thương nhân người Việt và người Hoa dự phần. Do ảnh hưởng đồ sứ ký kiểu của hai triều Lê – Nguyễn, những bộ đồ trà xinh xắn vẽ men lam tuyệt vời, nhiều gia đình giàu có hoặc các chành, vựa đã đặt các nhà buôn đường dài làm những bộ đồ trà, trong đó có ấm Tử Sa (thường gọi là Chu sa). Cũng như mặt hàng đồ sứ, người đặt hàng chỉ cần đưa hàng mẫu (gọi là kiểu) và thỏa thuận giá cả là ít lâu sau sẽ nhận được hàng, thời đó các loại trà ngon rất đắt tiền, loại ấm Chu sa dáng nhỏ dành cho độc ẩm được dùng phổ biến, vì thế ấm Mạnh Thần, Thế Đức và Lưu Bội trở thành mặt hàng bán chạy, đến độ các nhà buôn không chờ khách đặt hàng, tự đặt lò làm các kiểu ấm trên đem sang bán.

 

P12-13-457-8

Lạc khoản “Thế Đức Đường” trên đồ sứ (đồ kiểu) đầu thế kỷ 20

Hiện nay chúng ta có thể tìm thấy ở các cửa hàng bán đồ xưa (như phố Lê Công Kiều, Q.1, TP.HCM) loại ấm Tử Sa, hình trái quýt lột vỏ để lộ các múi, cùng kiểu dáng và kích cỡ nhưng dưới đáy ấm khi khắc hiệu Thế Đức, lúc lại là Mạnh Thần, điều đó cho thấy sản phẩm chỉ do một lò làm ra, thậm chí loại cao cấp hơn như ấm Mạnh Thần hiệu đề 6 chữ “Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, hoặc ấm có khắc dấu triện Lưu Bội cũng là sản phẩm giả cổ những năm đầu thế kỷ 20.

P12-13-457-16

Ấm Chu sa Lưu Bội (thế kỷ 20)

Lời thật mất lòng, người sưu tầm ai cũng hy vọng món mình kiếm được là hàng “xịn”, chánh hiệu. Nói vậy thì trên thế gian này không có chiếc ấm Tử Sa nào là hàng thật? Không phải vậy, là có đấy, nhưng chưa đến lượt bạn và tôi làm chủ. Thật ra thì việc có được những chiếc ấm làm vào đầu thế kỷ 20, xem như bạn cũng đã trúng số (tuy không phải độc đắc) vì có món đồ trăm tuổi, có thể yên tâm sử dụng, vì ít ra nó chỉ giả ở tên hiệu, tác giả; còn lại thì chất liệu, tay nghề nghệ nhân là thật. Nếu bạn biết rằng những chiếc ấm Tử Sa mới làm những năm gần đây, nhìn bề ngoài tinh xảo, hào nhoáng, nhưng không đáng gọi là Tử Sa, vì kể từ 1.5.2007, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên đất Tử Sa, chính phủ Trung Quốc cấm khai thác khoáng sản đất Tử Sa trong khu vực Nghi Hưng, trên thị trường thiếu hụt nguyên liệu nghiêm trọng, hiện nay không ít tác phẩm nghệ thuật Tử Sa có màu sắc rất đẹp mắt, nhưng đều được làm bằng loại đất sét thường, pha thêm nguyên liệu công nghiệp (bột thủy tinh và chất sắt) và phẩm màu.

 

P12-13-457-13

Ấm Lưu Bội sản xuất năm 2006 tại Sơn Đông

Phong trào chơi ấm Tử Sa tại Việt Nam chỉ mới rộ lên những năm gần đây, bắt nguồn từ những chuyến đi du lịch Tô Châu – Hàng Châu – Thượng Hải và Bắc Kinh. Những lần tham quan các cơ sở sản xuất ấm Tử Sa ở Tô Châu và Vô Tích (V.N chưa có tour đi Nghi Hưng) khiến du khách mở rộng tầm mắt, nghe biết nhiều giai thoại, sinh hiếu kỳ rồi yêu thích. Thêm các nhà buôn đồ gốm sứ Giang Tây, còn mang theo bán cả ấm Tử Sa giả cổ, tại Hà Nội có nhiều cửa hàng bán ấm Tử Sa và tại TP.HCM, một cửa hàng nằm trên đường Nhật Tảo mỗi tháng còn nhập về cả kiện hàng mới, bán cho người uống trà và cả giới sưu tầm.

 

P12-13-457-14

Ấm Mạnh Thần sản xuất năm 2007

Đối với một chiếc ấm Tử Sa đang cầm trên tay, nếu bạn cho nó là cổ, đem hỏi người khác thì khó có người dám định tuổi, vì con dấu lạc khoản không nói lên điều gì. Vậy thì bạn hãy căn cứ vào một số điểm sau đây để tự mình đánh giá sản phẩm:

1. Căn cứ vào đặc điểm phong cách thời đại, niên đại

Phong cách nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc giám định sản phẩm. Phong cách của một sản phẩm không thể nào vượt quá thời đại sản sinh ra nó, tác phẩm của nghệ nhân cũng không thể thoát ly khỏi thời đại mà nghệ nhân đó sinh sống. Bằng kinh nghiệm và kiến thức, người chơi có thể xem xét về đặc điểm công nghệ, nguyên liệu, công cụ chế tác và cách thức trang trí để thẩm định. Những sản phẩm không cùng thời đại thì sẽ có đặc điểm thời đại khác nhau, nghệ nhân không cùng thời đại thì đặc điểm công nghệ và tay nghề thủ công sẽ làm ra những sản phẩm khác nhau.

2. Nguyên liệu Tử sa từ hạt thô sang nhuyễn mịn

Đất Tử sa dùng làm ấm ban đầu là hạt to, thô chuyển dần sang nhỏ mịn, nguyên nhân là do sự khác biệt về công cụ làm ra nó. Thời kỳ đầu (đời Minh) nghệ nhân dùng chày giã đất, đến giữa đời Thanh chuyển sang xay bằng cối đá và cuối cùng là dùng máy xay chạy điện, vì vậy thân ấm Tử Sa từ giữa đời Thanh trở về trước da có hạt như da trái bưởi, nhìn kỹ các hạt đất kết dính không đều nhau, càng về sau càng nhuyễn dần, cho đến trơn bóng như hiện nay.

3. Vết nối bên trong thân ấm

Vào thời kỳ đầu (đời Minh), việc chế tạo ấm Tử Sa bắt chước hoàn toàn theo công nghệ chế tạo gốm sứ, thân ấm làm 2 phần ghép nối lại với nhau trước khi cho vào lò nung. Dùng tay sờ có thể phát hiện vết nối này.

4. Khoét lỗ gắn vòi và quai

Ấm Tử Sa làm vào đời Minh đều có dấu dao khoét vào thân ấm để gắn vòi và quai, sau đó được chà láng lại, nhìn kỹ vẫn phát hiện dấu sần sùi.

5. Dính men và tì vết

Trước đời Minh Vạn Lịch, ấm Tử Sa được cho vào lò nung chung với đồ gốm, vì vậy trên da ấm thường có lốm đốm vết men gốm bay dính.

6. Lỗ vòi

Vào đời Minh đến giữa đời Thanh, lỗ chảy của vòi luôn là lỗ đơn, sau đó mới chuyển dần sang nhiều lỗ, nhưng đều là số lẻ: 3 lỗ, 5 lỗ, 7 lỗ và 9 lỗ. Đến thập niên 1970,do ảnh hưởng loại ấm trà của Nhật Bản, ấm Tử Sa mới xuất hiện bán cầu nhiều lỗ để ngăn trà làm nghẹt vòi.

Ngoài 6 điểm cơ bản trên, còn một yếu tố thẩm định rất quan trọng, là xét về phong cách ghi niên hiệu, thư pháp, vẽ tranh, nhưng phần này rất dài, sẽ viết trong một bài khác.

 

P12-13-457-7

Lạc khoản các lò khắc trên ấm Tử Sa những năm đầu thế kỷ 20: Xuân Thủy Đường, Thế Đức Đường, Thịnh Đức Đường, Thanh Đức Đường. Ngoài ra còn nhiều “Đường” khác, như: Tuyên Đức Đường, Chân Đức Đường…

Trước một môn chơi còn mới mẻ và nhiêu khê như vậy thật không khỏi khiến mọi người nản lòng, nhưng hiện nay vẫn có nhiều người sưu tầm ấm Tử Sa. Chơi là để ngắm nhìn vui mắt, có đề tài trao đổi với bạn bè và nhất là tạo cơ hội cho mình nghiên cứu, học hỏi thêm.

Xung quanh chiếc ấm “Thụ Anh” của Cung Xuân (đời Minh)

 

P12-13-457-17

Ấm “Thụ Anh” của Cung Xuân

 

Năm 1928, Ông Trữ Nam Cường, một danh sĩ Nghi Hưng mua được chiếc ấm Tử Sa dáng vẻ rất cổ xưa tại Thọ Châu. Màu sắc của chiếc ấm cũ kỹ, thân ấm bầu tròn không theo qui tắc, bế mặt lồi lõm trông như vỏ cây khô, đầy những nếp nhăn, dưới quai ấm khắc hai chữ “Cung Xuân”, dưới nắp ấm hình cuống dưa có dấu ấn đề “Ngọc Lân”. Trữ Nam Cường mừng rỡ tột độ, sau khi tìm hiểu, nhờ thẩm định và chứng minh tưởng rằng chiếc ấm này là nguyên tác của Cung Xuân (Minh), nắp ấm bị bể được Huỳnh Ngọc Lân (Thanh) phối sau.

Chuyện này khi được công bố đã gây chấn động giới chơi cổ ngoạn vào thời đó. Hoạ sĩ nổi tiếng Huỳnh Binh Hồng khi thưởng thức chiếc ấm này đã chỉ ra rằng: “Chiếc ấm làm dựa theo hình dáng bướu cây ngân hạnh, nhưng Huỳnh Ngọc Lân đã phối nhằm chiếc nắp hình cuống dưa”.

 

P12-13-457-18

Chiếc ấm giả Cung Xuân của Huỳnh Ngọc Lân làm vào đời Thanh

Thế là Trữ Nam Cường nhờ danh thủ Tử Sa nổi tiếng của Nghi Hưng lúc bấy giờ là Bùi Thạch Dân phối một chiếc nắp khác hình bướu cây và khắc chữ trên đường viền nắp ấm: “Người làm ấm Cung Xuân, người phối nắp nhầm Huỳnh Ngọc Lân, 500 năm sau Huỳnh Binh Hồng phát hiện, người làm cái nắp mới là Thạch Dân, người đề chữ là Trĩ Quân”. “Trĩ Quân” là ông Phan Trĩ Lượng (1881-1942), một thư họa gia cận đại nổi tiếng của Nghi Hưng.

Gần trăm năm nay, sự thật giả của chiếc ấm Cung Xuân này luôn là đề tài tranh luận từ Á sang Âu, tuy rằng hiện nay giới Tử Sa đều công nhận chiếc ấm là tác phẩm hợp tác của học giả Ngô Đại Trừng cuối đời nhà Thanh và nghệ nhân Tử sa Huỳnh Ngọc Lân, nhưng vẫn có người còn tỏ ý nghi ngờ, cho thấy sức ảnh hưởng của nó lớn biết bao.

SONG MỘC

(Tài liệu tham khảo: Tử Sa hồ toàn thư – Hàn Kỳ Lâu – NXB Hoa Linh Bắc Kinh,Giám định Tử Sa sưu tập và thị trường – Trần Tụng Thư – NXB Mỹ Thuật Sơn Đông, Trung Quốc cổ đại trà cụ – Diêu Quốc Khôn , Hồ Tiểu Quân – NXB Văn Hóa Thượng Hải)

Đăng lại từ báo Đất Mũi Cuối tuần

 

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 

 

 

Posted in TRÀ ĐẠO VÀ TRÀ CỤ GỐM SỨ | Tagged ,, | 3 phản hồi

3 phản hồi

  1. em chao anh. em la sinh vien nam cuoi cuar truong dai hoc khoa hoc xa hoi va nhan van ha noi. em dang viet khoa luan tot nghiep vef tra dao phuong dong. anh cos the cho em lay tai lieu trong trang web cua anh lam tu lieu de viet khoa luan duoc khong a.
    chan thanh cam on anh

  2. Một bài viết quá hay, rất có giá trị đối với người sưu tập.
    Cám ơn anh chị Khánh Hòa-Thúy Nga đã đăng.
    Em cũng xin trích đăng lại bài này trên trang web của Hội CV Tp.HCM:http://www.covatvietnam.com.
    Chúc anh chị nhiều sức khỏe!

     http://khanhhoathuynga.wordpress.com/2009/09/20/trao-l%C6%B0u-lam-gi%E1%BA%A3-%E1%BA%A5m-t%E1%BB%AD-sa-nh%E1%BB%AFng-nam-d%E1%BA%A7u-th%E1%BA%BF-k%E1%BB%B3-20/

Posted in DRINKING | Leave a comment

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Tag,tags,học bổng, học bổng du học Úc, du học Úc,Du học Úc, Học bổng, du học ÚC,| học tiếng anh | tiếng anh giao tiếp | tiếng anh trẻ em,Du học Châu Mỹ,Du học Canada,Du học Mỹ,Truong Quoc Te,Cao Dang Quoc Te,Du học Châu Úc,Du học Úc,Du học New Zealand,Du
học Châu Á,Du học Singapore,Du học Nhật Bản,Du học Hàn Quốc,Du học Trung Quốc,Du học Châu Âu,Du học Anh,Du học Pháp,Du học Thuỵ Sĩ,Du học Hà Lan,Du học Đức,

(LĐ) – Chủ nhật 10/07/2011 07:30

Từ năm 2000 đến cuối năm 2010 là giai đoạn bùng nổ du học Úc với số lượng sinh viên Việt Nam đăng kí các khóa học tại Úc tăng gấp gần 7 lần và đạt mức 25.788 du học sinh.

Úc luôn là điểm đến đầy hấp dẫn với các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Bay vút
Úc luôn là điểm đến đầy hấp dẫn với các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Bay vút

Bối cảnh hội nhập

Trong giai đoạn 2000-2006, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,63%/năm. Cũng trong thời kì này, xu hướng cho con đi du học nước ngoài đã trở nên phổ biến với các gia đình khá giả.

Theo Bộ GD-ĐT Việt Nam, nếu như trong những năm 1997-1998, khi phong trào du học bắt đầu phát triển và Anh, Pháp, Mỹ là những quốc gia được du học sinh Việt Nam lựa chọn nhiều nhất thì cho đến giai đoạn kể từ năm 2000 trở đi, thị trường du học đã thay đổi nhiều với những điểm đến như Úc, New Zealand, Anh, Mỹ, Singapore và Thụy Sĩ.

Phần lớn sinh viên Việt Nam sang Úc du học theo diện tự túc nhưng bên cạnh đó, vào tháng 4/2000, chính phủ Việt Nam đã xây dựng Đề án “Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước” (gọi tắt là Đề án 322) và cấp học bổng du học cho các nhóm đối tượng hưởng lương từ ngân sách và doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó còn có một số lượng nhỏ sinh viên nhận được học bổng của các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học cũng góp phần khiến cho bức tranh du học Úc thêm phong phú.

Một yếu tố khác không thể không nhắc đến là sự đóng góp lớn lao của Chính phủ Úc trong việc giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế nói chung và giáo dục nói riêng. Nhân dịp đánh dấu kỉ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Úc-Việt (bắt đầu từ năm 1973), Ngoại trưởng Úc lúc bấy giờ, ông Alexander Downer, đã tuyên bố chương trình tài trợ trị giá 263 triệu đô-la Úc cho Việt Nam trong vòng 4 năm, trong đó có giai đoạn 2001-2002, nhằm tập trung cải thiện hệ thống y tế, cơ sở hạ tầng và tiếp tục viện trợ giáo dục thông qua các chương trình Học bổng Phát triển Úc vốn đã được Cơ quan phát triển Quốc tế Úc (AusAID) triển khai từ năm 1992.

Theo số liệu của Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (AEI), tính đến năm 2006, số lượng học sinh, sinh viên Việt Nam sang Úc học tập là 6.772 người, tăng gấp 1,5 lần năm 2000. Bên cạnh đó, số lượng sinh viên theo học các khóa tiếng Anh (ELICOS) cũng tăng lên 45.8% (đạt 1637 người), nhóm đối tượng học nghề tăng 29,8% (đạt 1089 sinh viên). Đặc biệt trong giai đoạn này, tổng số học sinh sang Úc học trung học đã tăng lên 51.6% và đạt 2907 người vào năm 2006.

Bước ngoặt với thị trường du học

Kể từ năm 2007, mối quan hệ hợp tác song phương Úc-Việt đã ngày càng củng cố và được nâng lên tầm cao mới, trở thành “Đối tác toàn diện” vào tháng 9/2009. Trong diễn tiến đó, vào năm 2010, chính phủ Úc công bố mỗi năm tổ chức AusAID sẽ cung cấp cho các sinh viên Việt Nam 225 Học bổng Phát triển (nay gọi là “Học bổng Australia vì sự Phát triển của Việt Nam” (ASDiV), tăng 50 % so với năm 2008. Thêm vào đó, Việt Nam cũng sẽ nhận được khoảng 15 Học bổng Năng lực lãnh đạo Australia (ALA) dài hạn và 40 học bổng ALA ngắn hạn. Hiện Việt Nam là nước đứng thứ ba về số lượng sinh viên được nhận học bổng ASDiV của Úc.

Cho tới giai đoạn gần đây nhất vào ngày 25/1/2011, Úc và Việt Nam đã ký Biên bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và dạy nghề. Trong chuyến công du Việt Nam vào ngày 13/4/2011 vừa qua, Ngoại trưởng Kevin Rudd đã cam kết Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc cải cách giáo dục bậc cao thông qua việc cung cấp học bổng và các khóa đào tạo. Ngoài ra, theo kế hoạch viện trợ của Úc, cho tới năm 2015, AusAID sẽ cung cấp tổng cộng khoảng 1680 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam.

Những nguyên nhân đó đã khiến cho số lượng du học sinh Việt Nam sang Úc học tập gia tăng rất mạnh mẽ kể từ năm 2007 tới nay. Cho đến năm 2009, thứ bậc xếp hạng của Việt Nam đã tăng đáng kể và chỉ xếp sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan và Nepal. Chỉ tính riêng trong ba tháng đầu năm 2011 đã có tổng số 17.651 sinh viên Việt Nam đăng kí nhập học.

Trào lưu mới: di dân du học

Trong nỗ lực góp phần vào dòng chảy du học, không thể không nhắc đến sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực công nghệ thông tin với tốc độ từ 15-20% và “gần như là số 1 trong khu vực” (theo lời ông Houlin Zhao, Phó Tổng thư ký Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU). Vì vậy, khoảng cách giữa Việt Nam và các quốc gia đã ngày càng thu hẹp lại và du học không còn là một điều quá to tát đối với các “công dân toàn cầu” tương lai ở đất nước này. Ngoài ra, còn phải nhắc đến một số nhân tố khác như sự thương mại hóa giáo dục, sự phát triển của các hình thức tín dụng du học tại Việt Nam, sự mở rộng các hình thức liên kết giáo dục bán du học Việt-Úc…

Về phía các sinh viên, một số lý do chính khiến họ lựa chọn du học Úc là vì bằng cấp được quốc tế công nhận, môi trường sống an toàn, thanh bình, người dân thân thiện, học phí và sinh hoạt phí rẻ hơn một số nước phát triển ở Châu Âu và Mỹ, quá trình xin visa nhanh chóng và thuận tiện.

Trong những năm qua, Úc rất mở cửa trong chính sách nhập cư và thường quảng bá du học gắn liền với việc có thể dễ dàng xin được thường trú Úc (PR – Permanent Residency) để định cư lâu dài tại đất nước chuột túi. Điều này đã góp phần khiến cho lượng sinh viên sang Úc du học tăng nhanh chóng, đặc biệt là đội ngũ sinh viên học nghề như làm tóc, làm bánh, nấu ăn, quản lý nhà hàng, khách sạn, thợ cơ khí… vì đây là những ngành nghề nước Úc thiếu hụt lao động. Từ năm 2000 đến cuối năm 2010, số du học sinh Việt Nam theo học các khóa nghề ở Úc đã tăng gần 9 lần.

Với việc cắt giảm danh sách ngành nghề ưu tiên (để xin PR) của Bộ Nhập cư và Quốc tịch (DIAC) vào tháng 5/2010, số lượng sinh viên Việt Nam sang Úc học nghề tuy đã có sự sụt giảm nhưng không nhiều (khoảng 4,5%) trong năm này.

Tuy nhiên, vào ngày 11/11/2010, chính sách di trú của Úc lại một lần nữa thay đổi, theo đó, những sinh viên muốn xin PR phải đáp ứng nhu cầu cao hơn về tiếng Anh và kinh nghiệm làm việc. Trước sự thay đổi này, có nhiều ý kiến cho rằng PR chỉ còn là một “giấc mơ xa vời” với phần lớn sinh viên quốc tế.

Nước Úc và cuộc chơi mang tên PR 

Có thể nói rằng trong giai đoạn từ năm 2000-2008, nước Úc rất cởi mở trong chính sách nhập cư và việc quảng bá du học Úc thường được gắn liền với định cư nhằm thu hút sinh viên quốc tế. Điều này đã khiến cho không ít sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam, có cơ hội xin được thường trú lâu dài – PR (Permanent Residency) và trở thành công dân Úc.

Tuy nhiên, trong khoảng hai năm trở lại đây, luật PR của Úc liên tục thay đổi. Từ một đất nước mở cửa thu hút lao động nhập cư đến từ các quốc gia khác dưới thời Thủ tướng John Howard, Chính phủ Úc dưới thời Thủ tướng Kevin Rudd và gần đây là Julia Gillard đang dần đóng chặt cánh cửa nhập cư.

Trước đây, để xin được PR thì du học sinh phải có đủ 120 điểm theo cách tính của Bộ Nhập cư và Quốc tịch Úc – DIAC dựa trên cơ sở bằng cấp, độ tuổi, trình độ tiếng Anh… Bên cạnh đó, những sinh viên có ngành học nằm trong Danh sách Ngành nghề nhập cư có nhu cầu cao tại Úc – MODL (Migration Occupations on Demand List) sẽ được cộng thêm điểm ưu tiên.

Tuy nhiên, vào ngày 8/2/2010, Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Úc lúc bấy giờ là Thượng nghị sĩ Chris Evans thông báo bãi bỏ MODL và không lâu sau đó, vào tháng 5/2010, DIAC cắt giảm Danh sách các Ngành nghề ưu tiên (Skilled Occupation List – SOL), từ 408 ngành nghề xuống chỉ còn 181 ngành.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là bước khởi đầu của chiến lược cải cách nhập cư của chính phủ Úc.

Quyết tâm cải cách chính sách nhập cư

Điểm nổi bật nhất của luật PR mới là mặc dù để có thể đủ điều kiện nộp hồ sơ PR, các ngành học của sinh viên vẫn phải nằm trong SOL nhưng hiện nay, SOL không còn được sử dụng làm cơ sở để tính điểm như trước nữa. Đây là một trong những nỗ lực của chính phủ nhằm tách rời hơn nữa chính sách du học và định cư với lí do “chính sách nhập cư của Úc không thể bị quyết định bởi các khóa học của sinh viên quốc tế” theo tuyên bố của Thượng nghị sĩ Chris Evans, Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Úc vào năm 2010.

Chính sự buông lỏng quản lí của Chính phủ Úc trong lĩnh vực giáo dục đã dẫn đến thực trạng là mặc dù trong những năm vừa qua có một số lượng lớn sinh viên quốc tế xin được PR theo diện tay nghề nhưng rất nhiều người trong số đó lại không thể tìm được việc làm đúng chuyên ngành vì chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường lao động Úc.

Với sự thay đổi luật PR có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2011, chính phủ Úc đã thể hiện quyết tâm cải cách chính sách nhập cư. Tuy nhiên, hiện có nhiều ý kiến lo ngại rằng việc thay đổi chính sách di trú theo chiều hướng thắt chặt hơn sẽ càng khiến cho Úc bị thiếu hụt trầm trọng lao động lành nghề trong tương lai.

Sinh viên quốc tế “khóc ròng”

Chính sách di trú mới đưa ra những yêu cầu cao hơn rất nhiều đối với các ứng cử viên xin PR, theo đó ưu tiên nhóm đối tượng có trình độ cao, đặc biệt là tiến sĩ (được cộng 20 điểm), cử nhân hoặc những người có cả bằng cử nhân và thạc sĩ (15 điểm).

Luật PR mới cũng ưu tiên cho những ứng cử viên trong độ tuổi từ 25-32 bởi thống kê của Cục Thống kê Úc (ABS) cho thấy nhóm lao động nhập cư nằm trong độ tuổi này mang lại lợi ích nhiều nhất cho nền kinh tế Úc. Hơn nữa, những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm làm việc tại Úc và 8 năm tại các nước khác cũng có nhiều lợi thế trong việc được cộng thêm điểm.

Bên cạnh đó, một trong những thay đổi gây ra thách thức lớn nhất cho sinh viên quốc tế là việc DIAC nâng cao yêu cầu về điểm tiếng Anh IELTS, theo đó, chỉ có những người đạt 7 điểm IETLS trở lên (không có kĩ năng nào dưới 7) thì mới được cộng thêm điểm.

Không phải đến tận bây giờ chính sách nhập cư của Úc mới thay đổi mà trước đây Bộ Nhập cư và Quốc tịch nước này cũng từng khẳng định chắc chắn rằng: “Luật di trú sẽ liên tục thay đổi theo thời gian”.

Và xem ra giấc mơ mang tên PR sẽ vẫn còn như một trò đuổi bắt với các sinh viên quốc tế…

(Theo bayvut số ra ngày 7 và 8.6.2011

http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Bung-no-du-hoc-Uc-ky-1/20242.bld

Posted in Uncategorized | Leave a comment